Tái định giá trong môi trường lãi suất cao

Tiếp tục định giá lại

Mới chỉ hơn một tháng trước, thị trường chứng kiến những pha tăng giá mạnh mẽ của nhóm cổ phiếu doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trong các ngành, nhưng với mặt bằng lãi suất không còn thấp như trước và tác động tiêu cực của xung đột tại khu vực Trung Đông, các cổ phiếu này đã giảm về mặt bằng giá được thiết lập trước khi bước vào sóng tăng.

Thị giá cổ phiếu VCB (của Ngân hàng Vietcombank) đã giảm về dưới 60.000 đồng/cổ phiếu – mặt bằng giá đã thiết lập trước khi tăng do hiệu ứng của Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước. Hay thị giá cổ phiếu BID (của Ngân hàng BIDV) đã giảm về vùng giá 38.900 đồng/cổ phiếu – mức giá chào bán cho cổ đông chiến lược. Trong ngày 25/3/2026, BIDV đã công bố thông tin hoàn tất việc chào bán riêng lẻ 263,3 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Cổ phiếu VNM từng được đua mua ở mức giá 65.000 đồng/cổ phiếu hồi giữa tháng 1 rồi đi ngang trên 70.000 đồng/cổ phiếu một thời gian hiện đã quay về mặt bằng 60.000 đồng/cổ phiếu.

Nhóm cổ phiếu chứng khoán hiện đang giao dịch ở mức định giá P/E và P/B quanh mức trung bình 5 năm đã có sự sụt giảm mạnh nhất trong các nhóm ngành trong 2 tuần bị ảnh hưởng tiêu cực bởi thông tin xung đột tại Trung Đông. Nhóm này tạo đồ thị giá với đáy sau thấp hơn đáy trước, trong khi nhóm cổ phiếu chịu áp lực giảm từ trước đó như bất động sản thì kiểm định lại đáy cũ, tích lũy đi ngang trong những phiên giảm điểm khốc liệt của thị trường dưới sức ép call margin.

Ngay cả kỳ đánh giá nâng hạng của thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra vào đầu tháng 4, được đánh giá khả năng vượt qua là chắc chắn, cũng không đủ sức để tác động vào nhóm chứng khoán quá lớn khi mà dòng vốn đầu tư đang có xu hướng thận trọng hơn trong bối cảnh mặt bằng lãi suất tăng cao.

Nhóm cổ phiếu trả cổ tức bằng cổ phiếu, hoặc tiền mặt ở mức cao cũng cho thấy sự kém nhiệt tình của dòng tiền.

Tuần trước, OCB công bố tăng vốn bằng chia cổ tức và cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu, theo tỷ lệ 15%. Với thị giá hiện tại quanh 11.000 đồng/cổ phiếu, thị giá OCB sẽ giảm về dưới mệnh giá khi cổ đông hưởng quyền phát hành thêm. Năm nay, hầu hết các ngân hàng đều có xu hướng chia cổ tức bằng cổ phiếu để giữ lại vốn chủ sở hữu, trong khi đó, tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng không khả quan như năm 2025 nên dòng tiền e ngại với pha loãng cổ phiếu.

Giám đốc chiến lược một công ty chứng khoán chia sẻ, thông thường, các ngân hàng sẽ đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận nhưng thực hiện được hay không thì chưa rõ. Thị trường nhìn các yếu tố đầu vào của môi trường kinh doanh để đánh giá khả năng tăng trưởng lợi nhuận của nhóm ngân hàng.

Câu chuyện của nhóm ngân hàng đã nhìn thấy rõ ràng từ cuối năm trước là tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay trên tiền gửi) đều gần chạm mức trần. Kể từ quý III năm ngoái, các ngân hàng đã đẩy mạnh huy động vốn, tăng lãi suất để đảm bảo tỷ lệ LDR trong ngưỡng quy định.

Tuần trước, mặt bằng lãi suất huy động được các ngân hàng niêm yết tiếp tục tăng thêm 0,1 – 0,2%/năm. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 30 ngày đã vượt ngưỡng 7%/năm. Lãi suất kỳ hạn trên 6 tháng đã vượt ngưỡng 8%/năm. Các khoản tiền gửi giá trị lớn vài chục tỷ đồng có thể thỏa thuận lãi suất cao hơn cho kỳ hạn tháng. Lãi suất trái phiếu mua bán có đảm bảo của ngân hàng đã tăng lên hơn 9%/năm. Lãi suất tăng cho thấy các ngân hàng vẫn đang ứng phó với vấn đề thanh khoản.

Mặt bằng lãi suất cao trong bối cảnh tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp chưa rõ ràng bởi các yếu tố đầu vào biến động (giá tăng lên) là yếu tố không thuận lợi cho đà phục hồi của thị trường chứng khoán, ngay cả khi yếu tố rủi ro lớn từ bên ngoài là xung đột tại Trung Đông tạm lắng xuống.

Kỳ vọng room tín dụng tăng thêm?

Từ đầu tháng 3, một số ngân hàng đã sử dụng hết room tín dụng của quý I. Mặt bằng lãi suất tăng lên, nhưng so với những giai đoạn lãi suất cao trong những năm gần đây, như giai đoạn ảnh hưởng của đổ vỡ thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2022 thì mặt bằng lãi suất hiện tại chưa phải là quá cao. Room tín dụng hạn chế hơn và lãi suất cao hơn nhưng chưa quá cao đến mức làm tê liệt các hoạt động đầu tư như đã từng thấy.

Thị trường kỳ vọng sang quý II khi có room mới, hoạt động tín dụng sẽ sôi động trở lại. Đặc biệt hơn, với chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhiều ý kiến cho rằng, room tín dụng sẽ được tăng lên so với chỉ tiêu tăng trưởng 15% đặt ra từ đầu năm mang tính định hướng.

Báo cáo Định vị nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao, được Finntrade phát hành mới đây, nhận định Việt Nam bước vào pha tăng trưởng mới với tham vọng GDP tăng trưởng từ 10% trở lên, đòi hỏi quy mô và chất lượng vốn vượt trội so với trước. Để đạt mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tiệm cận tỷ lệ 40% GDP, đặt ra yêu cầu cao hơn về cả quy mô và chất lượng vốn trong giai đoạn 2026 – 2030.

Đối chiếu với các nguồn vốn hiện hữu, sự thiếu hụt nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20 – 30 tỷ USD mỗi năm. Sự thiếu hụt này không chỉ nằm ở con số tuyệt đối, mà nằm ở sự lệch pha về cấu trúc: Mô hình tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức xấp xỉ 145% vào cuối năm 2025). Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn toàn hệ thống đạt 28,32% (cuối tháng 11/2024), sát trần 30% quy định của Ngân hàng Nhà nước, khiến dư địa mở rộng tín dụng dài hạn bị thu hẹp đáng kể. Hệ số an toàn vốn (CAR) của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam mỏng và sát ngưỡng tối thiểu đang trở thành rào cản cho tăng trưởng tín dụng nếu các ngân hàng không kịp thời bổ sung vốn tự có.

Theo Finntrade, năm 2026, dư địa tăng trưởng tín dụng thấp do tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn đã gần chạm trần của Ngân hàng Nhà nước và bộ đệm vốn rất mỏng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng đang tiệm cận các giới hạn an toàn. Cụ thể, nếu duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 16%/năm để hỗ trợ mục tiêu GDP tăng 8 – 10%/năm, tỷ lệ tín dụng/GDP sẽ vượt 180% vào cuối thập kỷ và tiệm cận/vượt mức 200% sau năm 2030. Mức độ đòn bẩy này vượt xa ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, làm gia tăng rủi ro đối với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới không thể tiếp tục được tài trợ chủ yếu bằng tín dụng ngân hàng, mà cần sự dịch chuyển căn bản sang các nguồn vốn dài hạn phi ngân hàng.

Các nguồn vốn tài trợ cho nền kinh tế tăng trưởng có khả năng gia tăng mạnh mẽ là đầu tư công, trái phiếu doanh nghiệp và vốn cổ phần từ IPO và huy động vốn trên thị trường chứng khoán.

Như vậy, chờ đợi một sự sôi động trở lại của thị trường chứng khoán trong thời gian ngắn nhờ room tín dụng có vẻ khó khả thi. Trong khi đó, cơ cấu lãi suất ở các kỳ hạn cho thấy mặt bằng lãi suất hiện nay có thể duy trì thêm 6 tháng nữa cho đến khi có xu hướng mới.

Bù lại, sự kiện nâng hạng thị trường chứng khoán có hiệu lực vào tháng 9 tới đây có khả năng kích hoạt dòng vốn ngoại cũng như dòng vốn nội để thị trường chứng khoán sôi động, trở thành một trụ cột cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Ông Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng Nghiên cứu ngành và cổ phiếu, Công ty Chứng khoán MB (MBS)
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng Nghiên cứu ngành và cổ phiếu, Công ty Chứng khoán MB (MBS)

Lãi suất đang tạo lập mặt bằng mới cao hơn, thị trường chứng khoán sẽ chuyển sang trạng thái phân hóa mạnh hơn, thay vì tăng giảm đồng đều do mặt bằng lãi suất mới sẽ dần ảnh hưởng tới thanh khoản và khiến dòng tiền chọn lọc hơn. Trong bối cảnh đó, nhóm doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán lành mạnh, ít phụ thuộc vào vốn vay và có dòng tiền tốt sẽ chống chịu tốt hơn trước biến động của thị trường.

Nhóm cổ phiếu bất động sản là nhóm chịu tác động phân hóa rõ nhất. 2026 – 2027 là giai đoạn mở rộng mới của bất động sản nhà ở nhờ nguồn cung cải thiện, pháp lý dần được tháo gỡ và kênh trái phiếu doanh nghiệp ấm lên. Tuy nhiên, lãi suất cho vay tăng có thể gây áp lực lên chi phí tài chính của doanh nghiệp địa ốc, nhất là nếu tiến độ pháp lý dự án chậm hoặc doanh nghiệp dùng đòn bẩy cao. Nghĩa là, nhóm doanh nghiệp có quỹ đất sạch, pháp lý rõ ràng, năng lực bán hàng tốt và cấu trúc vốn khỏe vẫn có thể đi lên, còn nhóm vay nợ lớn sẽ chịu sức ép rõ hơn.

Với nhóm chứng khoán, tôi kỳ vọng, yếu tố mặt bằng lãi suất cao hơn sẽ được bù trừ bởi triển vọng nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trong năm 2026. Khi đó, kỳ vọng dòng vốn ngoại được bổ sung mới, thay vì bị rút ròng trong giai đoạn vừa qua có thể giúp thị trường duy trì mặt bằng thanh khoản tương đương hoặc cao hơn một chút so với năm ngoái. Triển vọng thanh khoản trung bình duy trì trong khi giá nhiều cổ phiếu chứng khoán đang ở mức thấp hơn năm ngoái có thể mang đến một số cơ hội đầu tư.

Với nhóm cổ phiếu ngành hàng tiêu dùng, bức tranh cũng phân hóa rất rõ giữa nhóm hàng thiết yếu và không thiết yếu. Trong năm 2026, tiêu dùng được kỳ vọng cải thiện nhờ hỗ trợ tài khóa và phục hồi sản xuất và thiên về nhu cầu thiết yếu. Nếu lãi suất ở vùng cao hơn, nhóm hàng thiết yếu, dược phẩm, bán lẻ phục vụ nhu cầu cơ bản sẽ không quá bị ảnh hưởng; còn nhóm điện máy, hàng không thiết yếu sẽ nhạy cảm hơn với chi phí vốn và tâm lý thắt chặt chi tiêu.

Hệ thống ngân hàng vẫn còn dư địa tăng tín dụng nhưng sẽ đi kèm áp lực ở phía huy động nguồn vốn. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bình quân đã tăng liên tục từ đầu năm đến nay, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng vọt do áp lực thanh khoản ngắn hạn. Các tín hiệu này cho thấy áp lực huy động của các ngân hàng là rất lớn, vì vậy, trong trường hợp room tín dụng được nới thêm thì tín dụng sẽ tăng, nhưng khả năng tăng sẽ phân hóa theo từng ngân hàng. Những ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao, nền huy động bán lẻ ổn định, thanh khoản mạnh và bộ đệm vốn tốt sẽ có sự thuận lợi hơn. Ngược lại, các ngân hàng có tỷ lệ LDR chạm trần quy định, hoặc phụ thuộc nhiều vào huy động kỳ hạn dài sẽ phải cạnh tranh lãi suất đầu vào để huy động nguồn.

Nhìn tổng thể thì chi phí vốn sẽ khó giảm, NIM toàn ngành ngân hàng nhiều khả năng đi ngang, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ nhích lên khi các khoản vay ưu đãi hết thời gian ưu đãi và lãi suất thả nổi được điều chỉnh lại. Do đó, trong trường hợp room tín dụng được nới, tín dụng vẫn tăng, nhưng hệ thống sẽ chịu áp lực huy động và áp lực này sẽ giữ chi phí vốn ở mức cao hơn, khiến mặt bằng lãi suất khó quay về vùng thấp như trước.

Ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Phân tích Công ty Chứng khoán Agriseco
Ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Phân tích Công ty Chứng khoán Agriseco

Lãi suất đang thiết lập mặt bằng mới cao hơn trước, điều này sẽ có những tác động nhất định đến các nhóm ngành trên thị trường chứng khoán. Trong đó, các nhóm nhạy cảm với lãi suất có thể kể đến như bất động sản, chứng khoán hay tiêu dùng.

Đối với nhóm bất động sản, trong bối cảnh lãi suất cho vay tăng cao và tín dụng tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ, thanh khoản thị trường có xu hướng chững lại, gây áp lực lên tốc độ bán hàng và dòng tiền doanh nghiệp. Đồng thời, chi phí tài chính gia tăng sẽ ảnh hưởng mạnh hơn đến các doanh nghiệp có đòn bẩy cao. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tập trung vào phân khúc trung cấp, đáp ứng nhu cầu ở thực, vẫn có khả năng duy trì sự ổn định tương đối nhờ nhu cầu bền vững.

Đối với ngành chứng khoán, việc lãi suất huy động tăng làm suy giảm sức hấp dẫn của kênh cổ phiếu so với kênh tiền gửi. Hệ quả là dòng tiền vào thị trường có thể bị thu hẹp, kéo theo thanh khoản giao dịch giảm, từ đó ảnh hưởng không tích cực đến hoạt động môi giới, cho vay ký quỹ cũng như hiệu quả kinh doanh của các công ty chứng khoán.

Ở nhóm tiêu dùng, môi trường lãi suất cao làm gia tăng áp lực trả nợ và thúc đẩy xu hướng tiết kiệm của người dân. Do đó, các ngành hàng không thiết yếu như điện máy, ô tô hay hàng xa xỉ có thể đối mặt với nhu cầu suy yếu do người tiêu dùng trì hoãn chi tiêu.

Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp sở hữu lượng tiền mặt lớn và có doanh thu tài chính đáng kể từ tiền gửi, sẽ được hưởng lợi tương đối từ mặt bằng lãi suất cao. Bên cạnh đó, các lĩnh vực mang tính phòng thủ như điện, nước, y tế, dược phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu ít chịu ảnh hưởng hơn, nhờ nhu cầu tiêu dùng duy trì ổn định bất chấp biến động của chu kỳ lãi suất.

Theo quan điểm của tôi, ngay cả khi hạn mức tín dụng được nới, các ngân hàng chưa chắc sẽ đẩy mạnh cho vay ngay trong ngắn hạn, do vẫn cần ưu tiên cân đối lại tỷ lệ LDR cũng như ổn định nguồn vốn đầu vào trước khi tăng tốc giải ngân. Thực tế, mặt bằng LDR cao hiện nay chủ yếu phản ánh áp lực thanh khoản mang tính thời điểm, khi tăng trưởng tín dụng đang vượt tốc độ huy động.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa hỗ trợ thanh khoản thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ thị trường mở hoặc điều phối dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước. Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu tăng trưởng huy động vẫn không theo kịp tín dụng, áp lực cạnh tranh vốn đầu vào giữa các ngân hàng sẽ tiếp diễn, qua đó, khiến chi phí vốn duy trì ở mức cao.

Ông Nguyễn Trọng Đình Tâm, Giám đốc Khối Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Thiên Việt (TVS)
Ông Nguyễn Trọng Đình Tâm, Giám đốc Khối Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Thiên Việt (TVS)

Nền lãi suất huy động và cho vay liên tục đi lên kể từ cuối năm 2025 đến nay, ảnh hưởng trọng yếu tới dòng tiền tham gia thị trường chứng khoán do nhà đầu tư sẽ phân bổ một phần tài sản dành cho kênh tiền gửi, đồng thời xu thế tăng lãi suất cũng ảnh hưởng tới chi phí vay để giao dịch chứng khoán. Nhìn chung, trong môi trường lãi suất tăng, dòng tiền tham gia thị trường sẽ không dồi dào như giai đoạn tiền rẻ, do đó, hoạt động đầu tư sẽ mang tính chọn lọc, tập trung vào các nhóm cổ phiếu có câu chuyện hỗ trợ mạnh.

Đối với các nhóm cổ phiếu nhạy cảm với lãi suất, lĩnh vực bất động sản nhà ở đã tạo đỉnh trung hạn kể từ khi lãi suất huy động hình thành xu thế tăng mới kể từ tháng 10/2025. Lãi suất tăng kéo theo sự thu hẹp của dòng tiền tham gia vào thị trường bất động sản cũng như tác động trực tiếp tới bức tranh tài chính của các chủ đầu tư bất động sản. Dù vậy, sau nhiều tháng điều chỉnh, nhóm cổ phiếu bất động sản đang có tín hiệu cân bằng và hình thành các nhịp hồi phục kỹ thuật trong ngắn hạn.

Trong khi đó, lĩnh vực chứng khoán cũng chịu ảnh hưởng do lãi suất tăng tác động tới quy mô thanh khoản trên thị trường thứ cấp. Mặc dù vậy, nhóm cổ phiếu này vẫn được nâng đỡ bởi triển vọng nâng hạng thị trường chứng khoán trong năm 2026, theo khung phân loại của FTSE Russell.

Nhu cầu về vốn cao của nền kinh tế để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP tiếp tục kéo theo nhu cầu mở nguồn vốn đầu vào của hệ thống ngân hàng thương mại, trong bối cảnh tín dụng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo của nền kinh tế. Chúng tôi nhận định xu thế tăng lãi suất huy động để gia tăng tính cạnh tranh về nguồn vốn đầu vào vẫn là tâm điểm của hệ thống trong nửa đầu năm 2026. Diễn biến này cũng kéo theo việc điều chỉnh lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng để cân đối NIM.

Chúng tôi dự báo lãi suất huy động bình quân tăng 1%/năm trong năm 2026; đồng thời, lãi suất cho vay bình quân 12 tháng dự kiến sẽ tăng từ 0,5 – 0,75%/năm trong năm nay. Việc nền lãi suất neo cao hơn so với năm 2025 cũng góp phần duy trì chênh lệch lãi suất dương giữa VND và USD để hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Nguồn: https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tai-dinh-gia-trong-moi-truong-lai-suat-cao-post387696.html

////////////khacnhaudoannay
Bài viết liên quan
Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *