Cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập: Vì sao dừng với đơn vị độc quyền?
Việc không thực hiện cổ phần hóa đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đang nắm giữ vị trí độc quyền cung ứng dịch vụ công nhằm chặn đứng nguy cơ biến độc quyền nhà nước thành độc quyền tư nhân, cũng như bảo vệ quyền lợi tiếp cận dịch vụ cơ bản của người dân, đặc biệt là nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội.
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp nhằm thay thế cho Nghị định số 150/2020/NĐ-CP ban hành ngày 25-12-2020. So với quy định hiện hành vốn chỉ cho phép chuyển đổi thành công ty cổ phần, dự thảo mới đã mở rộng thêm mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Chặn nguy cơ chuyển từ độc quyền nhà nước sang độc quyền tư nhân
Dự thảo mới ghi nhận đề xuất của Bộ Tài chính về việc không thực hiện cổ phần hóa đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đang nắm giữ vị trí độc quyền cung cấp dịch vụ công ở quy mô địa phương hoặc toàn quốc.
Bộ Tài chính giải thích lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công có đặc thù là phần lớn các dịch vụ không thuộc diện được phép cổ phần hóa, đồng thời tỉ lệ các đơn vị tự chủ được tài chính vẫn còn ở mức rất hạn chế. Nếu chỉ tính riêng trong nhóm được định hướng tập trung cổ phần hóa là các đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, cả nước cũng chỉ có 889 đơn vị tự bảo đảm được nguồn chi thường xuyên, tương đương tỉ lệ 6,3%. Thực tế này dẫn đến hệ quả là số lượng đơn vị sự nghiệp công lập có thể thỏa mãn cùng lúc cả tiêu chí về ngành nghề hoạt động lẫn điều kiện về năng lực tự chủ tài chính để đủ tiêu chuẩn chuyển đổi thành công ty cổ phần là rất ít.
Tiến sĩ Lê Hồng Hạnh, Đại học RMIT Việt Nam nhận định nhìn từ góc độ kinh tế, lợi ích lớn nhất của việc giữ lại một số đơn vị sự nghiệp công lập không nằm ở bản thân đơn vị đó, mà ở những tác động lan tỏa mà các dịch vụ này tạo ra cho xã hội. Lợi ích của các dịch vụ này thường không dừng ở người sử dụng mà còn tác động đến chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nói cách khác, trong một số lĩnh vực, mục tiêu tối đa hóa hiệu quả tài chính không phải lúc nào cũng trùng với mục tiêu tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội trong dài hạn. Điều này đặc biệt đáng cân nhắc khi Việt Nam vẫn đang trong quá trình mở rộng độ bao phủ y tế, nâng cao chất lượng giáo dục công và thu hẹp chênh lệch tiếp cận dịch vụ giữa các địa phương.
Theo các chuyên gia, dự thảo nghị định mới đã đề xuất không thực hiện cổ phần hóa đối với các đơn vị đang độc quyền cung ứng dịch vụ công hoặc hoạt động trong các lĩnh vực nhạy cảm liên quan trực tiếp đến an sinh xã hội như y tế, giáo dục và xuất bản. Lý thuyết kinh tế học công cộng và thực tiễn quốc tế đã chứng minh có những lĩnh vực mang đặc tính độc quyền tự nhiên hoặc có tầm ảnh hưởng mang tính sống còn đến an sinh xã hội, an ninh quốc gia như y tế, giáo dục cốt lõi, mạng lưới an sinh, xuất bản, truyền thông, công tác xã hội… Đối với các lĩnh vực này, nếu vội vã cổ phần hóa để chạy theo xu hướng thị trường, hệ lụy sẽ vô cùng khôn lường.
Khi một đơn vị công lập độc quyền cung ứng dịch vụ thiết yếu biến thành công ty cổ phần, mục tiêu tối thượng của tổ chức sẽ bị chuyển hướng từ phục vụ cộng đồng sang tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông.
Khi đó, người dân, đặc biệt là người nghèo và các đối tượng yếu thế, sẽ phải đối mặt với nguy cơ giá dịch vụ leo thang, chất lượng suy giảm và mất đi quyền tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Việc Bộ Tài chính kiên quyết giữ vai trò kiểm soát tại các lĩnh vực này chính là để chặn đứng nguy cơ chuyển từ độc quyền nhà nước sang độc quyền tư nhân.
Tầm nhìn dài hạn
Chuyên gia kinh tế Trần Thanh Hải cũng cho rằng khi mục tiêu hoạt động bị thay đổi từ phục vụ cộng đồng sang tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông, hệ lụy tất yếu là giá cả dịch vụ có thể leo thang vượt quá khả năng chi trả của nhóm người dân có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, xu hướng mang tính thương mại cũng dễ dẫn đến sự phân biệt đối xử trong khả năng tiếp cận dịch vụ, khi các doanh nghiệp tư nhân thường tập trung nguồn lực vào những thị trường lớn béo bở ở khu vực đô thị và bỏ rơi các khu vực vùng sâu vùng xa, từ đó gây ra sự mất công bằng trong xã hội.
Ở góc nhìn khác, Tiến sĩ Lê Hồng Hạnh đánh giá đề xuất của Bộ Tài chính là hợp lý đối với những đơn vị đang cung cấp dịch vụ công thiết yếu hoặc có tính độc quyền. Tuy nhiên, không nên vì vậy mà đóng lại hoàn toàn khả năng cổ phần hóa đối với toàn bộ khu vực sự nghiệp công lập. Một bệnh viện công hay một trường học công có vai trò rất khác với một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực có thể cạnh tranh thị trường. Vì vậy, câu hỏi không phải là có cổ phần hóa hay không, mà là cổ phần hóa ở đâu và đến mức nào.
Kinh nghiệm quốc tế, trong đó có các nghiên cứu của OECD về cung cấp dịch vụ công, cho thấy không phải dịch vụ công nào cũng cần Nhà nước trực tiếp nắm giữ với cùng một mức độ. Những lĩnh vực như cấp nước, xử lý chất thải hay vận tải công cộng thường có thể huy động khu vực tư nhân tham gia nhiều hơn.
Trong khi đó, giáo dục, y tế và an sinh xã hội không chỉ mang lại lợi ích cho người sử dụng mà còn tạo ra giá trị cho toàn xã hội thông qua chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, ngay cả ở những nước có khu vực tư nhân phát triển mạnh như Nhật Bản hay Hàn Quốc, Nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm trong việc hoạch định chính sách và bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cũng dự liệu câu chuyện này, theo đó đề xuất hai phương án chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp bao gồm việc chuyển thành công ty cổ phần hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
“Tôi ủng hộ tinh thần thận trọng của đề xuất này, nhưng cho rằng cần có cách tiếp cận phân loại rõ ràng và linh hoạt. Nhà nước nên tiếp tục nắm giữ vai trò chi phối ở những lĩnh vực mang tính công ích cốt lõi và có tính chất độc quyền tự nhiên.
Ngược lại, với những đơn vị đã tự chủ tài chính cao, hoạt động theo cơ chế thị trường và ít ảnh hưởng trực tiếp đến an sinh xã hội cơ bản, việc cho phép cổ phần hóa một phần hoặc áp dụng mô hình sở hữu hỗn hợp sẽ vừa giúp huy động nguồn vốn xã hội, vừa tạo ra nguồn cổ phiếu chất lượng cho thị trường chứng khoán, góp phần tăng thanh khoản và chiều sâu cho thị trường vốn Việt Nam.
Tóm lại, vấn đề không phải là cổ phần hóa nhiều hay ít, mà là cổ phần hóa đúng đối tượng, đúng mức độ và đúng cơ chế. Việc xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng, minh bạch để phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ giúp chính sách vừa bảo vệ lợi ích công cộng, vừa tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển bền vững của cả khu vực sự nghiệp công lập lẫn thị trường chứng khoán”, Tiến sĩ Lê Hồng Hạnh khuyến nghị.
|
Tạo không gian phát triển bình đẳng Theo chuyên gia kinh tế Trần Thanh Hải, Nhà nước cần tập trung nguồn lực vật chất, con người và thông tin của khối nhà nước vào những lĩnh vực then chốt, những hạ tầng lớn mà kinh tế tư nhân không thể làm hoặc làm với chi phí quá cao. Đối với những lĩnh vực mà kinh tế tư nhân có thể tự làm và tự tính toán được hiệu quả, ví dụ như hạ tầng giao thông hay các tuyến đường sạch, Nhà nước nên mạnh dạn giao cho họ làm và chỉ cần thực hiện vai trò quản lý đầu ra để đảm bảo an sinh xã hội, giá cả phù hợp với sức chịu đựng của người dân và không đánh đổi môi trường. Việc phân định rõ ràng phạm vi hoạt động này chính là giải pháp để tránh việc chồng chéo đặc quyền và tạo không gian phát triển bình đẳng. |
PHƯƠNG MINH
– 07:01 08/06/2026
Nguồn: https://vietstock.vn/2026/06/co-phan-hoa-don-vi-su-nghiep-cong-lap-vi-sao-dung-voi-don-vi-doc-quyen-746-1451615.htm

