Bài toán cân đối cơ cấu hàng hóa: Chờ đợi những “cú hích” IPO từ các lĩnh vực giàu tiềm năng
Nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026-2030 đang ở quy mô chưa từng có, đặc biệt là nhu cầu vốn cho trung và dài hạn. Kênh thị trường chứng khoán dự kiến huy động khoảng 5.4 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới. Áp lực này đặt ra một câu hỏi: liệu “rổ hàng hóa” hiện có của thị trường có đủ sức gánh vác trọng trách đó?
Thực trạng cơ cấu hàng hóa trên thị trường chứng khoán
Vấn đề với thị trường Việt Nam hiện nay không phải là thiếu vốn, mà là thị trường chứng khoán cần thêm sức hấp dẫn để thu hút dòng vốn, đảm nhận vai trò dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Một trong những vấn đề được nhắc đến thời gian qua là cần tăng thêm nguồn cung hàng hóa chất lượng cho thị trường.
Thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam đang có sự thiếu cân đối về cơ cấu hàng hóa. Nhóm tài chính – ngân hàng và bất động sản đang chiếm tỷ trọng lớn trong khi nhóm công nghệ, sản xuất, dịch vụ lại chiếm tỷ trọng thấp và xu hướng này đang ngày càng tăng. Số liệu được đại diện Quỹ Đầu tư Dragon Capital đưa ra tại Hội thảo Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn (được tổ chức ngày 15/07/2026 tại Hà Nội) cho thấy, nhóm tài chính – ngân hàng và bất động sản đã tăng tỷ trọng từ 56% năm 2020 lên 68% năm 2026, trong khi nhóm sản xuất giảm từ 21% xuống 15%, nhóm dịch vụ giảm từ 17% xuống 11%. Những ngành có tính dẫn dắt cho các động lực tăng trưởng mới, đặc biệt là công nghệ cao còn khá hạn chế.
|
Hình 1: Cơ cấu vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam theo nhóm ngành, giai đoạn 2020-2026
Nguồn: Dragon Capital, tài liệu trình bày tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”, 15/07/2026
|
So với các thị trường đã trải qua giai đoạn nâng hạng như Đài Loan, nơi công nghệ và chế tạo chiếm tỷ trọng vốn hóa vượt trội và đóng vai trò dẫn dắt chỉ số, cơ cấu ngành nghề của thị trường Việt Nam vẫn còn thiếu cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Đây chính là loại “hàng hóa” mà dòng vốn dài hạn quốc tế đang tìm kiếm nhưng chưa tìm thấy nhiều tại Việt Nam. Nếu so sánh với thị trường tương đồng như Thái Lan, Indonesia thì cơ cấu sản phẩm của Việt Nam vẫn đang nghiêng nhiều hơn về nhóm tài chính – ngân hàng và bất động sản.
|
Hình 2: Cơ cấu giá trị vốn hoá của Việt Nam và một số quốc gia
Nguồn: Dragon Capital, tài liệu trình bày tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”, 15/07/2026
|
Sự thiếu cân đối này lý giải phần nào một nghịch lý đang tồn tại: dù Việt Nam sở hữu nhiều yếu tố nội tại thuận lợi: tăng trưởng GDP tích cực (đạt mức 8.2% nửa đầu năm 2026 – mức cao nhất trong nhiều năm qua), triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết khả quan (23% năm 2026), định giá thị trường ở mức hấp dẫn (ở mức 11.4x) và tiến trình nâng hạng đang đến gần (ngày 21/9/2026 theo chuẩn FTSE), dòng vốn gián tiếp nước ngoài vẫn có xu hướng bán ròng trong những năm gần đây. Nhà đầu tư trên thị trường, đặc biệt là nhà đầu tư quốc tế có niềm tin vào câu chuyện vĩ mô của Việt Nam, nhưng điều khiến họ còn chưa sẵn sàng bỏ vốn là thiếu những doanh nghiệp đủ tầm để đặt niềm tin đó vào, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn và những lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao.
Bài học từ Indonesia là một tham chiếu đáng suy ngẫm. Dù nền kinh tế nước này không có dấu hiệu suy yếu, MSCI vẫn loại 6 cổ phiếu khỏi rổ chỉ số MSCI Global Standard Index từ cuối tháng 5/2026 do lo ngại về tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free float) thấp và cơ cấu sở hữu quá cô đặc, khiến thị trường này ghi nhận dòng vốn ngoại bán ròng khoảng 2.3 tỷ USD chỉ trong vài tháng đầu năm. Điều đó cho thấy chất lượng cấu trúc hàng hóa, chứ không phải quy mô hay tốc độ tăng trưởng vĩ mô mới thực sự là yếu tố quyết định khả năng giữ chân dòng vốn dài hạn của một thị trường.
Kỳ vọng làn sóng IPO mới: “Kích hoạt” các lĩnh vực động lực của nền kinh tế
Nếu nút thắt nằm ở cơ cấu hàng hóa, lời giải hợp lý nhất là kích hoạt việc IPO và niêm yết mới của các doanh nghiệp. Lĩnh vực ưu tiên, theo đại diện Công ty chứng khoán Agribank cần hội tụ đồng thời ba đặc điểm: có triển vọng tăng trưởng dài hạn, cần lượng vốn lớn để phát triển, và nằm trong nhóm ngành được Nhà nước ưu tiên. Xét theo các tiêu chí này, hạ tầng, cầu cảng, logistics và công nghệ thông tin – chuyển đổi số là những ứng cử viên rõ ràng nhất: đây là các lĩnh vực vừa có khả năng hấp thụ lượng vốn lớn, vừa tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn nền kinh tế. Một số ngành khác, như bất động sản khu công nghiệp, cũng có thể hưởng lợi gián tiếp khi hạ tầng giao thông được cải thiện, giúp giảm chi phí logistics và nâng sức hấp dẫn của Việt Nam trong thu hút vốn FDI.
Trong số các nguồn cung hàng hóa tiềm năng, nhóm doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn xứng đáng được nhìn nhận là một mũi nhọn, phù hợp với tinh thần thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước đã được đề ra tại Nghị quyết 79. Đây là nhóm doanh nghiệp có dư địa đòn bẩy tài chính còn thấp và tiềm lực vốn tương đối mạnh, phù hợp để dẫn dắt một chu kỳ đầu tư mới thông qua kênh thị trường chứng khoán (giống như giai đoạn 2017-2018). Song hành với đó, cần có thêm cơ chế đủ hấp dẫn để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu ngành, đặc biệt thuộc các lĩnh vực đang còn hạn chế về tỷ trọng nhưng lại được nhà đầu tư quan tâm như sản xuất, công nghệ cao (công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài niêm yết, qua đó đa dạng hóa thực chất cơ cấu hàng hóa, thay vì chỉ dựa vào một vài nhóm ngành truyền thống.
Nhìn vào các con số mục tiêu, khoảng cách cần thu hẹp là không nhỏ: để cân bằng lại cơ cấu tài trợ vốn cho nền kinh tế theo hướng các thị trường phát triển, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam cần đạt khoảng 120% GDP, trong khi hiện tại hai con số này mới ở mức 80-85%. Điều đáng lưu ý là khoảng cách này không thể thu hẹp chỉ bằng cách đẩy giá cổ phiếu đi lên. Một thị trường tăng vốn hóa nhờ đầu cơ khác về bản chất so với một thị trường tăng vốn hóa nhờ có thêm doanh nghiệp tốt niêm yết và chỉ có cách thứ hai mới tạo ra giá trị bền vững cho cả nhà đầu tư lẫn nền kinh tế.
Giải pháp “nâng chất” hàng hóa: Từ đưa “đầu tàu” lên sàn đến xây “mỏ neo” vốn nội địa
Nếu nút thắt nằm ở cơ cấu hàng hóa, giải pháp “đắt” nhất nhưng cũng mang tính đột phá nhất là đưa các “đầu tàu” của nền kinh tế lên sàn.
Nhóm đầu tiên là các doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn: thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 79/NQ-TW về đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, việc đưa nhóm doanh nghiệp này lên niêm yết sẽ tạo ra một “pipeline” hàng hóa quy mô lớn, đủ sức hấp dẫn các quỹ đầu tư tổ chức quốc tế. Thời gian tới, cần ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng Nghị định 57/2026/NĐ-CP (ngày 12/02/2026 về cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp) nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất và đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn; đồng thời chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước với lộ trình cụ thể và gắn cổ phần hóa, thoái vốn với niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán. Qua đó, vừa nâng cao hiệu quả cơ cấu lại vốn nhà nước, vừa bổ sung hàng hóa có chất lượng và tăng tính minh bạch cho thị trường.
|
Hình 3: Tác động tích cực của một thị trường vốn bền vững
Nguồn: Tác giả thực hiện, đồ hoạ do AI tạo
|
Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, phạm vi đã được xác định tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ, gồm 10 nhóm công nghệ như công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây), chip bán dẫn, robot – tự động hóa, sinh học – y sinh tiên tiến, năng lượng – vật liệu tiên tiến… Đây là những lĩnh vực đại diện cho các động lực tăng trưởng mới theo đúng định hướng chính sách, nhưng phần lớn doanh nghiệp trong nhóm này, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thường chưa đủ độ chín về quy mô và dòng tiền để niêm yết đại chúng ngay từ đầu.
Giải pháp phù hợp là sớm xây dựng một thị trường giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, với chuẩn niêm yết và cơ chế huy động vốn, thoái vốn linh hoạt hơn so với thị trường đại chúng truyền thống, qua đó tạo kênh dẫn vốn phù hợp cho nhóm ngành công nghệ chiến lược trong giai đoạn doanh nghiệp chưa đủ điều kiện lên sàn chính thức. Đồng thời bảo đảm dòng vốn từ các đợt IPO không chỉ mở rộng về quy mô, mà còn đi đúng vào những lĩnh vực đã được Nhà nước xác định là ưu tiên dài hạn.
Song song với việc mở rộng nguồn cung, một điều kiện không thể thiếu là phải có đủ lực cầu dài hạn để hấp thụ. Giải pháp cho vấn đề này nằm ở việc kích hoạt các dòng vốn dài hạn còn chưa được khai thác đầy đủ: quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ mở, và đặc biệt là nguồn lực từ khối bảo hiểm. Việc cho phép các công ty bảo hiểm, bảo hiểm xã hội được đầu tư một tỷ lệ nhất định vào cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao sẽ tạo ra một nhóm nhà đầu tư tổ chức trong nước đóng vai trò “mỏ neo”, vừa giảm bớt sự lệ thuộc vào dòng vốn ngoại, vừa tạo lực cầu ổn định để hấp thụ lượng hàng hóa mới phát sinh từ các đợt IPO lớn.
Ba nhóm giải pháp: “nâng chất” hàng hóa bằng làn sóng niêm yết từ khối doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn; doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ chiến lược; xây dựng “mỏ neo” vốn nội địa từ hệ thống nhà đầu tư tổ chức trong nước không phải là những lựa chọn tách rời, mà cần được triển khai đồng thời để hình thành một vòng xoáy tích cực cho thị trường vốn: hàng hóa tốt thu hút dòng vốn dài hạn, dòng vốn dài hạn cải thiện thanh khoản và định giá, từ đó tiếp tục khuyến khích thêm doanh nghiệp chất lượng lựa chọn thị trường chứng khoán làm kênh huy động vốn chủ đạo.
TS. Phạm Tiến Đạt, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính, Bộ Tài chính
– 12:00 24/07/2026
Nguồn: https://vietstock.vn/2026/07/bai-toan-can-doi-co-cau-hang-hoa-cho-doi-nhung-cu-hich-ipo-tu-cac-linh-vuc-giau-tiem-nang-746-1470022.htm



