Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh là bước khởi đầu. Để những “đầu tàu” đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu, điều quyết định vẫn là nhiệm vụ và cơ chế.
Viettel được xem như hình mẫu nhờ khả năng hình thành chuỗi giá trị và dẫn dắt cả một hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển. Ảnh: Viettel
Trong năm 2026, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn. Theo bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính), đây là nhiệm vụ được giao tại chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị.
Với mục tiêu đến năm 2030 có từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, câu hỏi quan trọng không chỉ là danh mục gồm những ai, mà doanh nghiệp được lựa chọn sẽ được giao thêm nhiệm vụ gì và trao thêm cơ chế gì.
Xác định ngành trước, chọn doanh nghiệp sau
Ngưỡng doanh thu để lọt bảng xếp hạng Fortune Global 500 hiện khoảng 33,2 tỉ USD. Với giả định tăng trưởng doanh thu bình quân trên 10% mỗi năm, một tập đoàn muốn hiện thực hóa mục tiêu năm 2030 cần nền tảng doanh thu khoảng 20 tỉ USD hiện nay. EVN, với doanh thu hợp nhất năm 2025 ước khoảng 24,8 tỉ USD, đã đăng ký tham gia mục tiêu này.
Ở cấp khu vực, Fortune Southeast Asia 500 năm 2025 có 76 doanh nghiệp Việt Nam, tăng từ 70 doanh nghiệp năm trước. Petrovietnam lần đầu đứng thứ 11 và là đại diện duy nhất của Việt Nam trong nhóm 20 doanh nghiệp có doanh thu cao nhất. Ngưỡng vào danh sách khu vực chỉ khoảng 349 triệu USD.
Viettel ghi nhận doanh thu hơn 220.000 tỷ đồng trong năm 2025, nộp ngân sách 42.290 tỷ đồng. Ảnh: Viettel
Khoảng cách giữa hai bảng xếp hạng cho thấy mục tiêu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 khu vực khả thi hơn, còn mục tiêu 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 toàn cầu thực sự khó. Điều này đòi hỏi tốc độ tăng trưởng duy trì nhiều năm và tốc độ ấy phụ thuộc lớn vào cơ chế.
Theo bà Nguyễn Thu Thủy, danh mục sẽ tham khảo các tiêu chí quốc tế như doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, đồng thời xem xét tiềm năng phát triển, thị phần và mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào ngành.
Đáng chú ý, Bộ Tài chính sẽ xác định trước những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt, sau đó lựa chọn doanh nghiệp phù hợp. Doanh nghiệp hiện chưa lớn nhưng hoạt động trong lĩnh vực chiến lược và có tiềm năng vẫn có thể được định hướng đầu tư, phát triển thành doanh nghiệp mạnh. Cách tiếp cận này giúp danh mục không chỉ là “bản chụp” quy mô hiện tại mà hướng tới tương lai.
Qua 40 năm đổi mới, số doanh nghiệp có vốn nhà nước giảm còn khoảng 850, trong đó khoảng 700 doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ. Riêng 18 tập đoàn, tổng công ty do Bộ Tài chính làm cơ quan đại diện chủ sở hữu nắm trên 60% tổng vốn và tài sản toàn khối.
“Đầu tàu” được đo bằng gì?
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, lựa chọn theo lối hành chính không phải lúc nào cũng đạt kết quả mong muốn, bởi tiềm năng khó được phản ánh đầy đủ qua các tiêu chí hành chính, trong khi năng lực quản lý nhà nước không đồng nhất với năng lực kinh doanh. Ông đề xuất lựa chọn những doanh nghiệp có tiềm năng và đã chứng minh năng lực trên thực tế.
Nhưng đã chọn phải đi kèm nguồn lực và đặc biệt là thể chế. “Thể chế phải đi trước hoặc ít nhất là đi đồng thời”, ông nhấn mạnh. Nếu xác định danh mục xong rồi vài năm sau mới xây dựng cơ chế thì khó đạt yêu cầu.
Danh mục doanh nghiệp dẫn dắt dự kiến trình Chính phủ trong năm 2026, trong khi cơ chế thưởng từ lợi nhuận vượt kế hoạch – một trong những cơ chế vượt trội được nhắc tới – dự kiến đề xuất năm 2027. Nếu các cơ chế khác cũng theo nhịp này, doanh nghiệp có thể được gọi tên là “đầu tàu” nhưng vẫn vận hành trong khuôn khổ cũ.
Một vấn đề khác là thước đo doanh nghiệp dẫn dắt. TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng trong cạnh tranh hiện đại, không chỉ doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp mà chuỗi giá trị cạnh tranh với chuỗi giá trị. Mỗi chuỗi có một doanh nghiệp dẫn đầu kéo theo hệ thống nhà cung ứng. Vì vậy, Việt Nam phải xây dựng chuỗi của mình và doanh nghiệp nhà nước phải làm được việc đó.
Ông dẫn Viettel như minh chứng về khả năng hình thành chuỗi giá trị, dẫn dắt một hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển và đề nghị nghiên cứu những trường hợp thành công để xây dựng tiêu chí lựa chọn.
TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni, nhận xét doanh nghiệp nhà nước nhìn chung hầu như không xuất khẩu, chủ yếu khai thác thị trường trong nước; ngay cả các định chế tài chính lớn cũng gần như chưa ra nước ngoài. Yêu cầu sau Nghị quyết 79, theo ông, là chuyển từ tư thế phòng thủ sang tư thế tấn công.
Những nút thắt chưa mở
Nếu một doanh nghiệp được xác định là “đầu tàu”, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở doanh thu, lợi nhuận mà còn ở tỷ lệ nội địa hóa, giá trị đặt hàng cho doanh nghiệp trong nước và số doanh nghiệp nhỏ và vừa được kéo vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, những chỉ tiêu này hiện chưa có trong hệ thống đánh giá.
Khi chưa được đo lường, doanh nghiệp sẽ thiếu động lực kéo theo cả hệ thống. Tương tự, nếu mức độ thâm nhập thị trường nước ngoài chưa trở thành tiêu chí đánh giá có trọng số tương xứng, mở rộng ra bên ngoài vẫn là lựa chọn nhiều rủi ro hơn so với khai thác thị trường trong nước.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, ngay cả những doanh nghiệp đã đi xa vẫn có những hạng mục có thể tiến xa hơn nếu không vướng rào cản. Nếu doanh nghiệp mạnh nhất còn vướng, phần còn lại của khu vực sẽ gặp khó khăn lớn hơn.
Xây dựng Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh là bước đi cần thiết. Không thể có doanh nghiệp lọt nhóm 500 lớn nhất thế giới nếu không xác định rõ ai sẽ được đầu tư và đầu tư vào đâu.
Nhưng danh mục tự nó không tạo ra năng lực. Nếu doanh nghiệp được gọi tên mà cơ chế vẫn như cũ, vẫn qua nhiều tầng phê duyệt, được đánh giá bằng thước đo chưa phản ánh đầy đủ đóng góp và thiếu công cụ cạnh tranh quốc tế, mục tiêu đến năm 2030 sẽ rất khó khả thi. Vì vậy, các điều kiện và cơ chế đi kèm cần được chuẩn bị song song ngay từ bây giờ, thay vì chờ danh mục được ban hành.
Trần Thọ
Nguồn: https://stockbiz.vn/tin-tuc/chon-dung-dau-tau-doanh-nghiep-nha-nuoc-manh-can-co-che-de-dan-dat-tang-truong/41317453


