Doanh nghiệp cao su lãi lớn dù xuất khẩu nguyên liệu giảm gần 20%

Quý II/2026, phần lớn doanh nghiệp cao su ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh nhờ giá bán duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, lượng cao su nguyên liệu xuất khẩu của Việt Nam lại giảm gần 20%. Trong khi đó, xuất khẩu sản phẩm từ cao su và một số dữ liệu tại doanh nghiệp cho thấy đầu ra trong nước đang xuất hiện những chuyển động đáng chú ý.

Kết quả kinh doanh quý II/2026 của nhóm doanh nghiệp cao su nhìn chung tích cực khi hầu hết các doanh nghiệp đều báo lãi. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam- CTCP (HoSE: GVR) ghi nhận doanh thu thuần hơn 7.097 tỷ đồng, tăng gần 18% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt hơn 2.556 tỷ đồng, tăng gần 68%.

Cùng xu hướng, doanh thu quý II của CTCP Cao su Đồng Phú (DPR), CTCP Cao su Phước Hòa (PHR) và CTCP Cao su Bà Rịa (BRR) đều tăng so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế cải thiện rõ rệt. Riêng CTCP Cao su Tây Ninh (TRC) có doanh thu giảm nhẹ nhưng lợi nhuận vẫn tăng.

Một trong những yếu tố hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này là mặt bằng giá cao su. Theo số liệu của Cục Thống kê, giá xuất khẩu cao su bình quân trong quý II/2026 đạt khoảng 2.068 USD/tấn, tăng 16,8% so với mức 1.771 USD/tấn cùng kỳ năm trước.

Đây cũng là yếu tố được GVR nhắc tới trong báo cáo tài chính. Tập đoàn cho biết giá cao su từ cuối năm 2025 đến nay vẫn duy trì ở mức cao, góp phần giúp lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ quý II tăng hơn 33% so với cùng kỳ.

Biểu đồ miêu tả tăng trưởng một số doanh nghiệp cao su. Riêng

Giá cao bù cho lượng xuất khẩu suy giảm

Các doanh nghiệp cao su hiện có nguồn thu từ nhiều lĩnh vực như khai thác gỗ, đầu tư tài chính, khu công nghiệp, thanh lý cây cao su hay đền bù đất. Tuy nhiên, khai thác và kinh doanh mủ cao su vẫn là hoạt động cốt lõi tại nhiều doanh nghiệp.

Riêng trong quý II/2026, doanh thu từ mủ cao su của GVR đạt khoảng 5.688 tỷ đồng, tương đương khoảng 80% tổng doanh thu thuần hợp nhất.

Điều đáng chú ý là trong lúc lợi nhuận của GVR và nhiều công ty thành viên tăng mạnh, lượng cao su Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài lại giảm đáng kể.

Theo Cục Thống kê, quý II/2026, Việt Nam xuất khẩu 251.934 tấn cao su, giảm 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch đạt khoảng 521 triệu USD, giảm 6%.

Khoảng cách khá lớn giữa mức giảm về lượng và mức giảm về kim ngạch chủ yếu đến từ giá bán. Giá xuất khẩu cao su bình quân trong quý II đạt khoảng 2.068 USD/tấn, cao hơn gần 17% so với cùng kỳ.

Tính chung 6 tháng đầu năm, lượng cao su xuất khẩu giảm khoảng 8% so với cùng kỳ, kim ngạch giảm 4,6%, trong khi giá xuất khẩu bình quân tăng gần 4%.

Như vậy, giá bán cao đang bù đắp đáng kể cho phần suy giảm về sản lượng xuất khẩu. Kết quả kinh doanh tích cực của doanh nghiệp cao su vì thế không xuất phát từ việc Việt Nam bán nhiều cao su nguyên liệu hơn ra thị trường quốc tế.

Một diễn biến khác cũng đáng chú ý.

Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ cao su đạt khoảng 439,9 triệu USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, nhóm hàng này mang về khoảng 802,5 triệu USD, tăng 13,4%.

Điều này tạo ra sự phân hóa khá rõ: lượng cao su nguyên liệu xuất khẩu giảm, nhưng giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ cao su lại tăng hai chữ số.

Dữ liệu của Cục Thống kê chưa cho biết sản lượng tương ứng của nhóm sản phẩm từ cao su, cũng như lượng cao su nguyên liệu trong nước được sử dụng để sản xuất các mặt hàng này. Vì vậy, chưa thể kết luận rằng lượng nguyên liệu được đưa vào chế biến trong nước đã tăng tương ứng.

Dù vậy, sự vận động trái chiều giữa xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm chế biến cho thấy đầu ra của chuỗi cao su đang có những diễn biến đáng theo dõi, thay vì chỉ phụ thuộc vào lượng nguyên liệu bán trực tiếp ra nước ngoài.

Những tín hiệu đầu tiên từ thị trường trong nước

Một trong những dữ liệu đáng chú ý nhất đến từ Cao su Đồng Phú.

Theo báo cáo sản xuất kinh doanh tháng 6/2026, DPR tiêu thụ gần 5.780 tấn cao su trong 6 tháng đầu năm, bằng 192% cùng kỳ năm trước.

Trong đó, lượng xuất khẩu đạt 1.049 tấn, gần như đi ngang khi bằng 98,9% cùng kỳ. Trái lại, lượng tiêu thụ trong nước đạt hơn 4.730 tấn, bằng 242,6% cùng kỳ.

Theo đó, tỷ trọng tiêu thụ trong nước trong tổng sản lượng bán ra của DPR tăng từ khoảng 65% trong nửa đầu năm 2025 lên gần 82% trong 6 tháng đầu năm nay.

Đây là một thay đổi đáng chú ý trong cơ cấu đầu ra của doanh nghiệp.

Dữ liệu tại GVR cũng cung cấp thêm một chỉ dấu, dù chưa đủ để phản ánh trực tiếp cơ cấu doanh thu hay sản lượng tiêu thụ.

Tại ngày 1/1/2025, xét trong tổng các khoản phải thu từ hai nhóm khách hàng mua mủ cao su nội địa và xuất khẩu, khách hàng nội địa chiếm khoảng 40%, còn khách hàng xuất khẩu chiếm khoảng 60%.

Đến cuối tháng 6/2026, tỷ trọng phải thu của hai nhóm đã gần tương đương nhau. Như vậy, sau khoảng một năm rưỡi, tỷ trọng phải thu từ khách mua mủ cao su trong nước trong tổng phải thu của hai nhóm đã tăng hơn 10 điểm phần trăm.

Khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi thời hạn thanh toán và thời điểm ghi nhận nên không thể xem là đại diện trực tiếp cho cơ cấu bán hàng. Tuy nhiên, đặt cạnh mức tăng mạnh của nội tiêu tại DPR, đây vẫn là dữ liệu đáng chú ý khi đánh giá sự thay đổi ở đầu ra của ngành.

Khả năng thị trường trong nước hấp thụ thêm cao su cũng cần được nhìn trong bối cảnh ngành săm lốp – lĩnh vực hạ nguồn quan trọng nhất đối với cao su tự nhiên – tiếp tục mở rộng.

Theo báo cáo của TCBS, ngành săm lốp hiện chiếm hơn 60% nhu cầu cao su tự nhiên toàn cầu. Riêng Trung Quốc chiếm khoảng 40-47% lượng cao su tự nhiên tiêu thụ trên thế giới.

Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp trong lĩnh vực lốp xe cũng ghi nhận hoạt động sản xuất, tiêu thụ gia tăng.

Sailun Việt Nam cho biết tỷ lệ cung cấp lốp cho các mẫu xe VinFast đã lên khoảng 70%. Trong khi đó, Casumina ghi nhận doanh số nội địa năm 2025 tăng 11%, riêng nhóm ô tô tăng 17%; năm 2026 doanh nghiệp đặt mục tiêu giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng 9%.

Những dữ liệu này chưa cho biết các nhà sản xuất lốp đang sử dụng thêm bao nhiêu cao su tự nhiên có nguồn gốc trong nước. Do đó, chưa đủ cơ sở để khẳng định thị trường nội địa đang thay thế kênh xuất khẩu nguyên liệu.

Tuy nhiên, mức tăng mạnh của nội tiêu tại DPR, sự thay đổi cơ cấu phải thu tại GVR và hoạt động mở rộng của ngành săm lốp đang đặt ra khả năng thị trường trong nước có thể đóng vai trò lớn hơn đối với đầu ra của một bộ phận doanh nghiệp cao su.

Trong khi đó, yếu tố hỗ trợ quan trọng nhất đối với nhóm doanh nghiệp này trong ngắn hạn vẫn là giá.

Báo cáo của TCBS dẫn số liệu ANRPC dự báo nguồn cung cao su tự nhiên toàn cầu năm 2026 đạt khoảng 15,34 triệu tấn, thấp hơn nhu cầu khoảng 15,55 triệu tấn, tương ứng mức thiếu hụt khoảng 210.000 tấn.

TCBS cũng cho biết giá cao su tại phần lớn thị trường lớn vào cuối tháng 5/2026 cao hơn khoảng 25% so với đầu năm. Về dài hạn, đơn vị này ước tính nguồn cung cao su tự nhiên tăng bình quân khoảng 1,7% mỗi năm, thấp hơn mức tăng khoảng 2,1% của nhu cầu.

Cán cân cung – cầu tiếp tục nghiêng về thiếu hụt là yếu tố thuận lợi cho mặt bằng giá cao su và qua đó hỗ trợ lợi nhuận doanh nghiệp.

Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ không giống nhau.

Ngoài diễn biến giá, nhà đầu tư cần theo dõi sản lượng khai thác, cơ cấu thị trường tiêu thụ và tỷ trọng các nguồn thu ngoài hoạt động cao su tại từng doanh nghiệp. Với những đơn vị sở hữu quỹ đất lớn như GVR, PHR hay DPR, lợi nhuận còn có thể chịu tác động đáng kể từ khu công nghiệp, chuyển đổi đất và các khoản đền bù.

Trong bối cảnh lượng cao su nguyên liệu xuất khẩu đang suy giảm, khả năng mở rộng đầu ra trong nước cũng trở thành một biến số đáng chú ý hơn.

Nếu nội tiêu tiếp tục tăng tại một số doanh nghiệp, trong khi ngành săm lốp và các lĩnh vực chế biến hạ nguồn tiếp tục mở rộng, doanh nghiệp cao su có thể có thêm một kênh hấp thụ sản lượng bên cạnh xuất khẩu nguyên liệu truyền thống.

Khi đó, câu chuyện của ngành cao su sẽ không chỉ nằm ở việc giá bán còn cao bao lâu, mà còn ở việc cao su Việt Nam được bán cho ai và được chế biến sâu đến đâu trước khi đi ra thị trường.

Link gốc

Nguồn: https://stockbiz.vn/tin-tuc/doanh-nghiep-cao-su-lai-lon-du-xuat-khau-nguyen-lieu-giam-gan-20/41348820

////////////khacnhaudoannay
Bài viết liên quan
Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *