Ngành phân bón cần chiến lược mới để nâng cao năng lực cạnh tranh

Từ vai trò hậu phương cốt lõi đồng hành cùng sự phát triển của nền nông nghiệp quốc gia, ngành phân bón Việt Nam đã từng bước vươn lên và xây dựng được năng lực sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, trước những biến động của chuỗi cung ứng và thực trạng vẫn phụ thuộc một phần vào nguyên liệu nhập khẩu, ngành công nghiệp này đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ để bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng.

Mekong ASEAN đã có dịp trò chuyện cùng TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, để lắng nghe những chia sẻ của ông về chiến lược chuyển đổi số, xanh hóa sản xuất, cũng như kiến nghị rà soát các chính sách thuế, quản lý nhằm tạo dư địa cho doanh nghiệp ngành phân bón nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.

Mekong ASEAN: Xin ông cho biết đôi nét tổng quan về ngành phân bón nước ta, năng lực sản xuất và xuất – nhập khẩu như thế nào?

TS. Phùng Hà: Cả nước hiện có hơn 800 nhà máy sản xuất phân bón các loại. Xét riêng về phân bón vô cơ: có 4 nhà máy sản xuất urea từ 2 nguồn nguyên liệu khí thiên nhiên và than, công suất 2,73 triệu tấn/năm; phân bón chứa lân bao gồm supe lân và lân nung chảy có 7 nhà máy, công suất khoảng 2 triệu tấn/năm; phân DAP có 3 nhà máy, hai nhà máy công suất 330.00 tấn/năm của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, một dây truyền sản xuất DAP của Tập đoàn Hóa chất Đức Giang; phân NPK các loại khoảng 4 triệu tấn/năm.

Tổng sản lượng phân bón vô cơ sản xuất của Việt Nam đạt gần 8 – 9 triệu tấn/năm; trong khi phân hữu cơ và sinh học có công suất khoảng 5 triệu tấn/năm. Trong khi đó, nước ta phải nhập khẩu toàn bộ phân bón MOP (KCl), hiện nay Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đang triển khai Dự án khai thác và chế biến muối kali tại Lào, về phân bón kali dạng SOP (kali sunfat) nước ta đang sản xuất khoảng 40.000 – 60.000 tấn/năm tại Công ty SOP Phú Mỹ và Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.

Nền nông nghiệp nước ta còn sử dụng chưa cân đối giữa phân bón vơ cơ và phân bón hữu cơ. Thực hiện Dự án “Sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu cần đạt là nâng tỷ trọng sản phẩm phân bón hữu cơ lên trên 30% tổng số sản phẩm phân bón; Tăng năng lực sản xuất phân bón hữu cơ của cơ sở sản xuất đủ điều kiện lên 5 triệu tấn/năm; Lượng phân bón hữu cơ công nghiệp sử dụng chiếm ít nhất 30% tổng lượng phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp.

Về nhập khẩu, từ năm 2016 đến nay nước ta thường nhập khẩu từ 4,5 triệu đến 6 triệu tấn phân bón, trị giá từ 1,2 đến 2 tỷ USD. Thống kê của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giai đoạn 2021 – 2025, Việt Nam nhập khẩu bình quân 4,69 triệu tấn phân bón mỗi năm, trị giá bình quân khoảng 1,4 tỷ USD, chủ yếu là SA và kali. Trong 6 tháng đầu năm 2026, theo số liệu từ Hải quan, nhập khẩu phân bón đạt khoảng 2,1 triệu tấn, trị giá 694,3 triệu USD, giảm lần lượt 34,9% và 33,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Trung Quốc là nhà xuất khẩu phân bón lớn nhất, chiếm khoảng 50% lượng phân bón nhập khẩu của Việt Nam. Về khối lượng, SA và kali chiếm tỷ lệ NK lớn nhất, tiếp theo là phân hữu cơ, NPK, DAP, ít nhất là urea. Về giá trị, lớn nhất là kali chlorua (KCl), tiếp theo là NPK, DAP, SA, thấp nhất là phân bón hữu cơ.

Ở chiều xuất khẩu, những năm trước 2022 nước ta xuất khẩu không đáng kể phân bón, thí dụ năm 2018 xuất khẩu phân bón đạt 227 triệu USD, năm 2019 đạt 265 triệu USD, từ năm 2022 do tình hình địa chính trị toàn cầu biến đổi nên xuất khẩu phân bón tăng cả lượng và trị giá, thí dụ năm 2022 xuất khẩu 1,72 triệu tấn, trị giá 1,1 tỷ USD, riêng nửa đầu năm 2026 Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,7 triệu tấn phân bón, thu về 933 triệu USD, tăng 52% về lượng và 107% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Campuchia là thị trường lớn nhất với hơn 330.000 tấn, trị giá 146 triệu USD; tiếp theo là Hàn Quốc, Philippines và Malaysia. Phân bón xuất khẩu chiếm tỷ lệ lớn nhất cả về khối lượng và giá trị là urea, thứ hai là NPK, tiếp theo là DAP.

Những số liệu trên cho thấy ngành phân bón Việt Nam có năng lực sản xuất gần như tất cả các chủng loại phân bón cung cấp cho nền nông nghiệp nước nhà, nhưng vẫn phụ thuộc nguồn nguyên liệu như lưu huỳnh, axit sunphuric, amoniac,… và nguồn cung nhập khẩu một số chủng loại phân bón, đặc biệt đối với kali (MOP) và SA.

Mekong ASEAN: Trong xu thế chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, xin ông cho biết chuyển đổi số đang được ứng dụng như thế nào trong ngành phân bón?

TS. Phùng Hà: Chuyển đổi số trong nông nghiệp là quá trình ứng dụng công nghệ số vào toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Đối với ngành phân bón, chuyển đổi số đang được triển khai ở nhiều công đoạn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, minh bạch hóa sản xuất và hỗ trợ người nông dân.

Các công nghệ như cảm biến đất, hình ảnh vệ tinh và dữ liệu thời tiết được sử dụng để xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng tại từng khu vực. Trên cơ sở đó, hệ thống AI có thể đưa ra khuyến nghị về loại phân bón, liều lượng và thời điểm bón phù hợp. Một số doanh nghiệp như PVFCCo, PVCFC, Supe Lâm Thao,… đã ứng dụng QR code và AI nhằm minh bạch hóa quy trình, kiểm soát chất lượng và hỗ trợ truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Công nghệ số cũng giúp nông dân theo dõi quá trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và tiếp cận trực tiếp các giải pháp kỹ thuật. Các công nghệ trí tuệ nhân tạo tích hợp hình ảnh 3D và giọng nói còn hỗ trợ người dùng tra cứu thông tin về cây trồng, đất, phân bón và sâu bệnh.

Một số mô hình tiêu biểu đã được triển khai. Dự án “Phân bón đúng” do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ tài trợ, Viện Lúa Quốc tế (IRRI) thực hiện, ứng dụng cảm biến và dữ liệu đất, chuyển đổi số và nông nghiệp chính xác trong quản lý phân bón và đất trồng lúa.

Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC) phát triển “Anh Hai Cà Mau”, trợ lý AI có khả năng tương tác bằng giọng nói hoặc văn bản qua các nhóm nội dung như hỏi đáp, nhà nông, sản phẩm và chăm sóc khách hàng.

Sàn thương mại điện tử VinachemMart của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.

Tập đoàn Hóa chất Việt Nam mới ra mắt sàn thương mại điện tử VinachemMart và bộ sản phẩm hàng tiêu dùng Vinachem. VinachemMart là sàn thương mại điện tử chuyên biệt cho các khách hàng có nhu cầu về sản phẩm hóa chất công nghiệp, phân bón nông nghiệp, và các sản phẩm hóa chất tiêu dùng. Trong đó nhóm phân bón: phân NPK các loại, phân bón hữu cơ và vi sinh.

Trong khi đó, CTCP Phân bón Bình Điền triển khai phần mềm E-Office từ năm 2025, đồng thời phát triển các ứng dụng như Canh tác thông minh và Quan trắc thông minh, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong sản xuất và sử dụng phân bón. Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao từ tháng 1/2021 đã áp dụng tem thông minh QR code trên bao bì.

Mekong ASEAN: Theo ông, những quy định pháp luật hiện nay về quản lý sản xuất phân bón còn điểm nào gây khó khăn cho doanh nghiệp và cần được sửa đổi theo hướng nào?

TS. Phùng Hà: Theo tôi, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và phân bón nói riêng ngày càng được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện, với Luật Trồng trọt, một số Luật có liên quan như tiêu chuẩn, quy chuẩn, các Nghị định về quản lý phân bón, xử phạt vi phạm hành chính, thuế xuất nhập khẩu cùng các thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn,… Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất, kinh doanh luôn thay đổi, cùng với những yêu cầu mới từ thị trường và các cam kết quốc tế, nên việc thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định quản lý nhà nước là cần thiết.

Cũng có những ý kiến, kiến nghị của các doanh nghiệp thành viên cần có sự trao đổi thêm, xin ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước. Thí dụ: Theo phản ánh của một số doanh nghiệp trong Hiệp hội Phân bón Việt Nam, quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/1/2026 về việc ghi cụ thể từng loại nguyên liệu đầu vào và hàm lượng sử dụng đang gây một số khó khăn. Trước hết, quy định này có thể ảnh hưởng đến bí mật công nghệ và bí mật kinh doanh.

Bên cạnh đó, quy định cũng làm giảm tính linh hoạt trong sản xuất. Về vấn đề này, Hiệp hội Phân bón Việt Nam đã thống nhất với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cần có những hội thảo, trao đổi để tiếp tục rà soát quy định theo hướng vừa bảo đảm quản lý chất lượng, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động và linh hoạt trong sản xuất.

Mekong ASEAN: Để ngành phân bón phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn tới, Việt Nam cần những giải pháp và chính sách trọng tâm nào, thưa ông?

TS. Phùng Hà: Trong bối cảnh địa chính trị thế giới còn nhiều biến động, rất nhiều quốc gia trên thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng thiếu phân bón do nguồn cung cả nguyên liệu sản xuất và phân bón đều bị gián đoạn, Việt Nam cần sớm nghiên cứu, xây dựng Chiến lược phát triển ngành phân bón cho giai đoạn mới trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Chiến lược cần tập trung vào đầu tư công nghệ, chuyển đổi số, xanh hóa sản xuất, sử dụng năng lượng tiết kiệm và nâng cao giá trị gia tăng.

Đồng thời, cần ưu tiên phát triển các dòng phân bón hiệu quả sử dụng cao (Enhanced Efficiency Fertilizer – EEF), giảm lượng phân bón sử dụng trên một đơn vị canh tác, hướng tới sản xuất và sử dụng các loại sản phẩm góp phần cải tạo và nâng cao sức khỏe đất, giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao chất lượng nông sản, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững. Chúng tôi cho rằng ngành phân bón cần được xác định là ngành kinh tế – kỹ thuật chiến lược, gắn với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và an ninh nông nghiệp quốc gia.

Hiệp hội Phân bón Việt Nam cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Khoa học và Công nghệ sớm xây dựng Chương trình khoa học và công nghệ về phân bón, dinh dưỡng cây trồng và sức khỏe đất. Đây là nền tảng để thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển các sản phẩm phân bón thế hệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Bên cạnh đó, đề nghị Bộ Tài chính cần xem xét chính sách thuế xuất khẩu theo hướng linh hoạt hơn đối với những sản phẩm như urê, supe lân có năng lực sản xuất vượt nhu cầu trong nước, qua đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì công suất và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Một vấn đề khác là thị trường hiện có hơn 29.000 chủng loại phân bón, gây khó khăn cho quản lý và lựa chọn sản phẩm. Theo chúng tôi, cần từng bước rà soát, giảm số lượng chủng loại thông qua các rào cản kỹ thuật phù hợp, đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm phân bón giả, kém chất lượng. Đây là giải pháp quan trọng để bảo vệ nông dân, doanh nghiệp chân chính và xây dựng thị trường phân bón minh bạch, lành mạnh.

Nội dung: Chu Chương, Thiết kế: Thu Thảo

Link gốc

Nguồn: https://stockbiz.vn/tin-tuc/nganh-phan-bon-can-chien-luoc-moi-de-nang-cao-nang-luc-canh-tranh/41449128

////////////khacnhaudoannay
Bài viết liên quan
Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *