Rủi ro pháp lý: Chuyển nhượng dự án trá hình qua chuyển nhượng vốn góp

Rủi ro pháp lý: Chuyển nhượng dự án trá hình qua chuyển nhượng vốn góp

Chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp nắm giữ dự án đầu tư và chuyển nhượng trực tiếp dự án là hai phương thức phổ biến trong hoạt động mua bán sáp nhập (M&A), đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản và đầu tư hạ tầng lớn. Hai hình thức này mang lại sự linh hoạt cho nhà đầu tư nhưng cũng tồn tại nhiều khác biệt về cơ sở pháp lý, thuế, thủ tục và rủi ro.

Quy định pháp luật liên quan

Chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp nắm dự án đề cập đến việc nhà đầu tư bán toàn bộ hoặc một phần vốn góp, cổ phần trong công ty dự án, dẫn đến thay đổi chủ sở hữu công ty mà bản thân dự án đầu tư vẫn thuộc quyền sở hữu và quản lý của công ty đó.

Hình thức này được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Doanh nghiệp 2020 (Điều 52 về chuyển nhượng phần vốn góp, Điều 127 về chuyển nhượng cổ phần) và Luật Đầu tư 2020 (Điều 26 về thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp). Theo đó, giao dịch chuyển nhượng vốn doanh nghiệp chỉ cần đăng ký thay đổi thông tin doanh nghiệp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Trong khi đó, chuyển nhượng dự án đầu tư là việc nhà đầu tư chuyển giao toàn bộ hoặc một phần dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCN ĐKĐT) cho nhà đầu tư khác, bên nhận chuyển nhượng sẽ kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ thực hiện dự án. Quy định cốt lõi tại Điều 46 Luật Đầu tư 2020 như sau:

Nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

– Dự án đầu tư hoặc phần dự án đầu tư chuyển nhượng không bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 48 của Luật Đầu tư.

– Nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng dự án đầu tư, một phần dự án đầu tư phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật Đầu tư.

– Điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

– Điều kiện theo quy định của pháp luật về nhà ở, pháp luật về kinh doanh bất động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án bất động sản.

– Điều kiện quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan (nếu có).

Ngoài ra, khi chuyển nhượng dự án đầu tư, ngoài việc thực hiện theo quy định tại Điều 48 Luật Đầu tư, doanh nghiệp Nhà nước có trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp trước khi thực hiện việc điều chỉnh dự án đầu tư.

Phân tích hạch toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Đối với chuyển nhượng vốn, thu nhập chịu thuế TNDN được xác định theo Điều 14 Thông tư 78/2014/TT-BTC (sửa đổi bởi Thông tư 96/2015/TT-BTC): Thu nhập tính thuế = Giá chuyển nhượng – Giá mua của phần vốn chuyển nhượng – Chi phí chuyển nhượng.

Với chuyển nhượng dự án, thu nhập chịu thuế = Giá chuyển nhượng (doanh thu) – giá vốn + chi phí liên quan hợp lý. Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư,… phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất là 20% (được áp dụng từ ngày 01/01/2016), không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ phần thu nhập của doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua được áp dụng thuế suất thuế TNDN 10% theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC).

Trong thực tế, số thuế phải nộp thường cao hơn do giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được tính theo giá thị trường, khung giá, bảng giá đất địa phương. Bên chuyển nhượng có thể phải nộp, tạm nộp thuế ngay khi phát sinh nghĩa vụ (ví dụ thời điểm ký hợp đồng, nhận tiền), sau đó quyết toán khi kết thúc kỳ tính thuế và việc chuyển nhượng thường gắn với thủ tục điều chỉnh GCN ĐKĐT hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư.

Thẩm quyền phê duyệt và thủ tục hành chính

Chuyển nhượng vốn chỉ yêu cầu thực hiện các thủ tục nội bộ và đăng ký thay đổi thành viên hoặc chuyển đổi loại hình theo Luật Doanh nghiệp 2020; bên chuyển nhượng ký hợp đồng, công ty thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi, không phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư mới nếu không thuộc trường hợp phải điều chỉnh chủ trương theo Luật Đầu tư 2020.

Chuyển nhượng dự án phức tạp hơn, việc chuyển nhượng phải tuân thủ các điều kiện theo Điều 46 Luật Đầu tư 2020, trong đó có điều kiện về văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có). Về thẩm quyền phê duyệt việc điều chỉnh dự án (bao gồm cả chuyển nhượng nhà đầu tư) gắn với thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư ban đầu: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nếu dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng (Điều 31 Luật Đầu tư 2020, như dự án có đầu tư chế biến dầu khí, kinh doanh casino…); Quốc hội hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong các trường hợp tương ứng theo Điều 30, Điều 32 Luật Đầu tư 2020.

Sự khác biệt này khiến chuyển nhượng vốn nhanh chóng, phù hợp các giao dịch cần tính linh hoạt, trong khi chuyển nhượng dự án dễ bị từ chối nếu dự án có vi phạm về tiến độ hoặc điều kiện pháp lý.

Rủi ro chuyển nhượng dự án trong vỏ bọc chuyển nhượng vốn

Đây là rủi ro thường xảy ra khi chuyển nhượng 100% vốn Công ty Dự án (hoặc tỷ lệ chi phối tuyệt đối) với mục đích chính là chuyển giao dự án mà không đi theo thủ tục chuyển nhượng dự án thông thường.

Cơ quan Nhà nước có thể đánh giá bản chất giao dịch là chuyển nhượng dự án trá hình vi phạm Điều 46 Luật Đầu tư 2020 và các quy định về điều chỉnh dự án, đặc biệt khi bên nhận vốn thực tế kiểm soát toàn bộ dự án và tiếp tục triển khai thay bên cũ. Hậu quả là nhà đầu tư bị buộc phải thực hiện bổ sung thủ tục chuyển nhượng dự án, điều chỉnh GCN ĐKĐT hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có).

Do đó, nhà đầu tư nên đánh giá từng dự án cụ thể, theo hướng chuyển nhượng vốn nếu dự án nhỏ, không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư phức tạp, và chấp nhận rủi ro bị tra soát, nhưng phải đảm bảo không vi phạm các điều kiện, thủ tục của Luật Đầu tư 2020 và pháp luật chuyên ngành.

Với các dự án lớn, dự án bất động sản, hạ tầng quan trọng, hoặc có yếu tố nước ngoài, việc đi đúng quy trình chuyển nhượng dự án sẽ minh bạch pháp lý hơn, dù tốn thời gian và chi phí. Nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ quy định pháp luật liên quan để đảm bảo thực hiện phù hợp.

Trong bối cảnh năm 2026, khi hoạt động M&A gia tăng, cơ quan thanh tra, kiểm tra tài chính – đầu tư có xu hướng giám sát chặt chẽ hơn, việc “lách luật” bằng hình thức chuyển nhượng vốn để che giấu chuyển nhượng dự án mang lại rủi ro pháp lý và tài chính rất lớn, có thể làm “đổ vỡ” toàn bộ thương vụ dù trên giấy tờ ban đầu có vẻ thuận lợi. Do đó, nhà đầu tư nên cân nhắc kỹ để có hướng đi đúng đắn đảm bảo về phát triển kinh doanh và phù hợp quy định pháp luật.

* Cách UOB âm thầm nhảy vào thị trường bất động sản Việt Nam

ThS. LS. Huỳnh Thị Mỹ Hằng (Công ty Luật Anh Sĩ)

FILI

– 13:00 14/03/2026

Nguồn: https://vietstock.vn/2026/03/rui-ro-phap-ly-chuyen-nhuong-du-an-tra-hinh-qua-chuyen-nhuong-von-gop-4220-1402920.htm

////////////khacnhaudoannay
Bài viết liên quan
Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *