Bài cập nhật
ĐHĐCĐ DCM: Lợi nhuận trước thuế quý 1 đạt 878 tỷ đồng
CTCP – Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC, HOSE: DCM), thành viên Petrovietnam (PVN) đã tổ chức ĐHĐCĐ thường niên 2026 vào sáng ngày 22/04 và thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch kinh doanh năm mới, kiện toàn dàn nhân sự lãnh đạo.
ĐHĐCĐ thường niên 2026 của DCM tổ chức sáng ngày 22/04 – Ảnh: Huy Khải
|
Thảo luận:
Định hướng sắp tới của Công ty đối với hai thị trường Mỹ và Brazil sẽ như thế nào, bên cạnh chiến lược trọng tâm là thị trường Campuchia?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Hiện nay, Công ty định hướng tỷ trọng xuất khẩu chiếm khoảng 25 – 30% tổng sản lượng. Trong đó, thị trường quan trọng nhất là Campuchia, được xem là thị trường mục tiêu chiến lược.
Tại Campuchia, Công ty đã xây dựng hệ thống 7 nhà phân phối lớn, phủ khắp các vùng trọng điểm. Thị phần Urê của DCM tại đây hiện trên 40%, có thời điểm tiệm cận 50%.
Ngoài Campuchia, Công ty tận dụng các giai đoạn thấp điểm trong nước và chênh lệch giá thuận lợi để xuất khẩu, với hai mục tiêu gồm cân bằng cung – cầu và tối ưu lợi nhuận.
Hiện nay, sản phẩm đã xuất khẩu đến khoảng 22 thị trường. Tuy nhiên, ngoài Campuchia (xuất khẩu trực tiếp), các thị trường khác chủ yếu thông qua các trader quốc tế do yêu cầu cao về hệ thống phân phối và kiểm soát thị trường.
Trong tương lai, khi mở rộng hoạt động quốc tế, Công ty có thể tiến tới xuất khẩu trực tiếp tại một số thị trường khu vực như Myanmar, Sri Lanka… Công ty đã ký hợp tác chiến lược với nhiều đối tác lớn như Samsung C&T, ICL… nhằm đảm bảo cả đầu vào và đầu ra.
Việc xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Brazil hay châu Âu phần lớn thông qua mạng lưới trader. Thành công đến từ chất lượng sản phẩm ổn định, uy tín thương hiệu và quy trình giao hàng chuẩn mực. Về nguyên tắc, Công ty chào bán minh bạch, đối tác nào đưa ra giá và điều kiện tốt nhất thì sẽ được lựa chọn.
Ngoài ra, trong một số thời điểm, dù giá xuất khẩu thấp hơn trong nước, Công ty vẫn phải xuất khẩu để giảm tồn kho, tránh quá tải hệ thống lưu trữ và đảm bảo vận hành liên tục của nhà máy.
Kế hoạch nâng công suất Nhà máy Đạm Cà Mau lên 125% đã triển khai đến đâu?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Trong suốt 15 năm qua, chúng tôi đã nâng công suất từ mức tiếp nhận ban đầu khoảng 98% công suất thiết kế lên đến 118.5% như hiện nay. Đặc biệt, trong dịp Tết vừa qua, riêng xưởng urê đã nâng lên mức 120% công suất thiết kế.
Trong thời gian tới, chúng tôi đang lập FS cùng với licensor và đơn vị tư vấn để đánh giá khả năng nâng tiếp lên 125% công suất thiết kế. Để thực hiện, có nhiều phương án, hoặc triển khai một hợp đồng EPC lớn, hoặc tiếp tục cải hoán theo lộ trình từng bước.
Dự kiến việc cải hoán sẽ bắt đầu vào cuối năm 2026, đầu năm 2027, hoàn thành vào tháng 8 – 9/2027. Chi phí ước tính cho việc nâng công suất từ 118.5% lên 125% vào khoảng 800 – 1,000 tỷ đồng, tùy theo mặt bằng giá. Về nguồn vốn, công ty vẫn đảm bảo được khả năng thu xếp và đáp ứng yêu cầu đầu tư.
Hiện tại Công ty đang ở giai đoạn nào ở mảng công nghệ sinh học và chăm sóc cây trồng? dự kiến khi nào sẽ bắt đầu ghi nhận doanh thu?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Trong giai đoạn tới, với công nghệ sinh học, chúng tôi tập trung vào hai hướng chính. Thứ nhất là nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm vi sinh trong phân bón và bảo vệ thực vật, tiến tới tham gia sâu hơn vào chuỗi canh tác và bảo quản sau thu hoạch. Hiện chúng tôi đang đầu tư một dây chuyền pilot với bioreactor dung tích khoảng 2,000 lít, dự kiến sản xuất 800 – 1,000 tấn chế phẩm vi sinh mỗi năm. Thứ hai là nghiên cứu, phát triển giống cây trồng.
Đồng thời, công ty cũng định hướng thành lập bộ phận công nghệ sinh học phân tử để tiến tới lai tạo giống mới – một lĩnh vực còn nhiều khoảng trống tại Việt Nam.
Về chế biến sau thu hoạch, trước mắt chúng tôi lựa chọn hợp tác với các doanh nghiệp có công nghệ và năng lực vận hành tốt (ví dụ như sầu riêng đông lạnh, nước uống, thực phẩm…). Mục tiêu là vừa có doanh thu sớm.
Hiện tại, chúng tôi đã lựa chọn khoảng 6 loại cây trồng để phát triển vùng nguyên liệu, với sự hỗ trợ đánh giá từ các viện chuyên ngành. Đã triển khai khoảng 20ha chanh không hạt tại Long An, và sắp tới là chanh dây, dứa MD2, chuối… Theo kế hoạch, các mô hình này có thể bắt đầu cho thu hoạch từ cuối 2027 đến đầu 2028.
Về biên lợi nhuận của mảng chế biến nông sản, theo khảo sát thực tế tại Thái Lan và các doanh nghiệp tương tự, biên lợi nhuận trước thuế có thể đạt khoảng 25 – 30%, là mức khá cao. Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, giống cây và các rủi ro khác, nên cần quản trị tốt để đạt hiệu quả bền vững.
Cơ chế thuế phát thải CBAM của châu Âu hiện tiến triển như thế nào? Mức phí dự kiến đến năm 2030 sẽ ảnh hưởng ra sao đến giá urê?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Đây là một hàng rào kỹ thuật rất lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón và xuất khẩu vào thị trường châu Âu, do là lĩnh vực có mức phát thải cao. Tuy nhiên, đối với các sản phẩm liên quan đến chế biến sau thu hoạch, nếu áp dụng công nghệ cao, kiểm soát tốt quy trình và giảm phát thải, thì mức độ ảnh hưởng của CBAM sẽ không quá lớn.
Ví dụ, Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất khoảng 900,000 tấn/năm phát thải khoảng 530,000 tấn CO2 mỗi năm. Để bù đắp lượng phát thải này, cần trồng tương đương khoảng 1,500ha rừng tiêu chuẩn mới có thể cân bằng.
Công ty rất quan tâm và sẽ từng bước triển khai trong lộ trình phát triển bền vững ESG, nhằm giảm gánh nặng môi trường và thích ứng với các loại thuế khi thâm nhập thị trường quốc tế.
Triển vọng kinh doanh quý 2 ra sao?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Sang quý 2, Công ty đã chốt một số lô hàng với mức giá khá tốt. Hiện có khoảng 3 lô hàng lớn, giá bán ổn định, nên khả năng cao quý 2 vẫn duy trì kết quả tích cực. Tuy nhiên, con số cụ thể cần chờ kết thúc quý.
Cách công bố giá khí của DCM đã bao gồm VAT chưa?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Liên quan đến thuế VAT 5% áp dụng từ ngày 01/07, đối với câu hỏi về giá khí công bố đã bao gồm VAT hay chưa, xin khẳng định là các số liệu công bố đã bao gồm VAT 10% cho cả giá khí và chi phí vận chuyển khí.
Từ khi đại lý cấp 1 đặt hàng đến khi giao hàng và ghi nhận doanh thu mất bao lâu? Tương tự với xuất khẩu, từ khi nhận đơn hàng đến khi giao hàng ra cảng là bao lâu?
Về thời gian đặt hàng và giao hàng, điều này phụ thuộc vào mùa vụ và đối tượng khách hàng. Công ty có lợi thế là sở hữu cảng xuất hàng riêng. Trước đây, công suất khoảng 2,000 – 3,000 tấn/ngày, nhưng hiện nay sau cải tiến, đã đạt khoảng 7,000 tấn/ngày, kể cả trong điều kiện thời tiết không thuận lợi.
Do đó, thời gian giao hàng từ Cà Mau đến Campuchia hoặc khu vực Tây Nam Bộ chỉ mất khoảng 2 – 3 ngày. Đối với các khu vực xa hơn như miền Trung hoặc miền Bắc, thời gian sẽ dài hơn tùy theo tuyến vận chuyển. Hình thức bán hàng cũng linh hoạt.
Đối với xuất khẩu, việc vận chuyển từ Cà Mau ra điểm trung chuyển (phao số 0) để bốc hàng lên tàu lớn (30,000 – 40,000 tấn) mất khoảng 10 – 15 ngày, tùy điều kiện thời tiết và việc huy động tàu.
Trong thời gian tới, Công ty đang đầu tư cảng lớn tại Nhơn Trạch, có thể tiếp nhận tàu 45,000 tấn. Đây sẽ là hạ tầng quan trọng giúp giảm chi phí logistics và tăng tính chủ động trong xuất nhập khẩu.
Làm rõ về chênh lệch giá giữa Việt Nam và thế giới?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Về chênh lệch giá giữa thị trường trong nước và thế giới, mức chênh này phụ thuộc vào từng thời điểm. Có lúc giá trong nước cao hơn, có lúc thấp hơn giá thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đã tham gia hơn 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), nên thị trường gần như liên thông. Do đó, việc điều hành giá phải bám sát diễn biến thị trường quốc tế và nhu cầu trong nước.
Thông thường, Công ty điều chỉnh mặt bằng giá định kỳ khoảng 15 ngày/lần, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, đại lý và nông dân, đồng thời tránh các hiện tượng đầu cơ, chênh lệch gây mất cân đối cung cầu.
Ban lãnh đạo có đề cập đến việc sử dụng thêm nguồn LNG. Xin chia sẻ cụ thể hơn về nguồn này?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: LNG là một trong những phương án dài hạn. Các mỏ khí tự nhiên đều có giới hạn khai thác, trong khi nhà máy có vòng đời rất dài (20 – 50 năm). Vì vậy, cần có chiến lược đa dạng nguồn cung cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Petrovietnam cũng đã định hướng phát triển hệ thống kho LNG trên toàn quốc, phục vụ nhu cầu sản xuất trong tương lai. Tuy nhiên, đây là quy hoạch cấp quốc gia nên chưa thể xác định chi tiết về thời điểm và quy mô cụ thể.
Trong bối cảnh giá dầu tăng kéo theo giá khí tăng, biên lợi nhuận năm 2026 dự kiến bị ảnh hưởng như thế nào?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Về tác động của giá dầu đến lợi nhuận: giá dầu tăng sẽ kéo theo giá khí tăng, nhưng hiện tại mức giá dầu chỉ khoảng trên 120 USD/thùng, chưa vượt đỉnh lịch sử (khoảng 150 USD). Đồng thời, giá urê hiện tăng mạnh hơn giá khí, nên biên lợi nhuận năm 2026 vẫn được kỳ vọng tích cực.
Nhà máy NPK tại Bình Định hiện đã đi vào hoạt động, vậy năm nay dự kiến chạy bao nhiêu % công suất và khi nào đạt 100% công suất?
Nhà máy có quy mô tương đối nhỏ (50,000 tấn/năm), chủ yếu phục vụ nhu cầu khu vực. Do đó, mục tiêu không phải là chạy tối đa công suất mà là linh hoạt đáp ứng thị trường và hỗ trợ mở rộng thị phần.
Chi phí đầu tư không lớn, nên không đặt nặng vấn đề hiệu suất tuyệt đối, mà ưu tiên hiệu quả kinh doanh và khả năng tiếp cận thị trường.
Nguồn khí vẫn được đảm bảo đến 2028
Tác động của bối cảnh địa chính trị, đặc biệt là xung đột Trung Đông, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty như thế nào?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Diễn biến địa chính trị thời gian qua đã tác động sâu rộng đến kinh tế toàn cầu, đặc biệt là giá năng lượng. Giá dầu biến động mạnh. Tuy nhiên, so với các giai đoạn trước (có lúc lên tới 147 – 150 USD/thùng), thị trường hiện nay đã có sự bù đắp nguồn cung nhất định.
Nguồn cung năng lượng được hỗ trợ bởi việc Mỹ gia tăng xuất khẩu khí sang châu Âu, cùng với việc điều tiết lại dòng chảy dầu từ nhiều khu vực. Một số quốc gia tăng mạnh dự trữ năng lượng chiến lược. Tuy nhiên, nhiều nước phụ thuộc nhập khẩu như Philippines, Thái Lan vẫn chịu áp lực lớn.
Đối với phân bón, khu vực Trung Đông chiếm khoảng 20% nguồn cung toàn cầu. Xung đột tại khu vực này, cùng với chiến sự Nga – Ukraine, đã làm gián đoạn sản xuất và chuỗi cung ứng. Trung Quốc cũng hạn chế xuất khẩu phân bón, khiến nguồn cung toàn cầu bị thắt chặt.
Trong khi đó, nhu cầu tăng cao do các nước chuẩn bị cho vụ mùa, đặc biệt trong quý 1, đã đẩy giá phân bón tăng mạnh. Một số yếu tố khác như các đợt đấu thầu lớn (ví dụ từ Ấn Độ) cũng góp phần đẩy giá lên cao.
Về triển vọng, nếu xung đột hạ nhiệt sớm, thị trường có thể dần ổn định. Tuy nhiên, do hạ tầng sản xuất bị ảnh hưởng, nguồn cung phân bón có thể cần thời gian để phục hồi. Vì vậy, mặt bằng giá có thể giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức cao trong phần lớn năm 2026.
Tại Việt Nam, do năng lực sản xuất Urê vượt nhu cầu nội địa, Chính phủ cho phép xuất khẩu. Công ty tận dụng các giai đoạn thấp điểm để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng vẫn đảm bảo nguồn cung trong nước. Giá bán trong nước được duy trì thấp hơn giá quốc tế, nhưng không chênh lệch quá lớn để tránh méo mó thị trường.
Đối với NPK, do nguyên liệu đã được dự trữ từ cuối năm 2025 nên giá tăng không quá mạnh, giúp nông dân dễ tiếp cận hơn. Đây cũng là cơ hội để chúng tôi đẩy mạnh tiêu thụ dòng sản phẩm này.
Dù vậy, trong trường hợp kịch bản xấu xảy ra và xung đột kéo dài, nguy cơ khủng hoảng năng lượng toàn cầu là hiện hữu, đặc biệt khi bước vào mùa đông cuối năm 2026.
Dự báo về tác động thời tiết?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Dự báo hiện tượng El Nino có thể gây nắng nóng, khô hạn và gia tăng rủi ro thiên tai. Tuy nhiên, giai đoạn chuyển tiếp với La Nina hiện tại vẫn có yếu tố trung tính, giúp giảm bớt phần nào tác động tiêu cực.
Thị trường nông nghiệp hiện nay ra sao?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Về thị trường nông nghiệp, giá lúa đang có dấu hiệu phục hồi do nhu cầu dự trữ tăng. Đây là tín hiệu tích cực, giúp nông dân duy trì sản xuất.
Về phía DCM, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu nhưng vẫn ưu tiên thị trường nội địa trong dài hạn. Đồng thời, sẽ xây dựng các chính sách phù hợp để hỗ trợ trực tiếp người nông dân trong mùa vụ chính.
Nguồn khí cung ứng cho nhà máy đạm hiện nay ra sao?
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh: Về nguồn khí, chúng tôi khẳng định nguồn cung cho cụm khí – điện – đạm vẫn được đảm bảo đến trước năm 2028. Sau đó, Tập đoàn đang triển khai các phương án bổ sung nguồn khí từ các mỏ mới và đàm phán gia hạn hợp đồng với đối tác để đảm bảo nguồn cung dài hạn.
Nhìn chung, Chính phủ và Tập đoàn đều xác định đây là lĩnh vực trọng yếu, do đó sẽ tiếp tục ưu tiên đảm bảo vận hành ổn định cho toàn hệ thống, trong đó có Nhà máy Đạm Cà Mau.
Định hướng cán mốc doanh thu 30,000 tỷ vào năm 2030
Phát biểu khai mạc đại hội, Chủ tịch HĐQT Trần Ngọc Nguyên cho biết giai đoạn 2020 – 2025 là một chặng đường 5 năm đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của DCM. Từ một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón chủ lực, DCM đã từng bước mở rộng, trở thành đơn vị cung cấp giải pháp dinh dưỡng toàn diện cho cây trồng, tiếp đó phát triển lên một bước cao hơn là cung cấp các giải pháp canh tác, đồng thời đưa vào vận hành ứng dụng chăm sóc cây trồng.
Trong thời gian tới, Doanh nghiệp sẽ tham gia sâu hơn vào chuỗi nông nghiệp bền vững, thông qua mở rộng sang lĩnh vực sau thu hoạch và chế biến nông sản phục vụ xuất khẩu. DCM sẽ hướng tới mốc doanh thu trên 30,000 tỷ đồng vào năm 2030.
Vị Chủ tịch cũng cho biết bản thân vừa được giới thiệu làm Thành viên HĐQT kiêm Tổng Giám đốc PV Trans (HOSE: PVT) – một thành viên khác của Petrovietnam (PVN), do đó sẽ từ nhiệm khỏi HĐQT DCM kể từ đại hội hôm nay.
Chủ tịch HĐQT Trần Ngọc Nguyên phát biểu khai mạc đại hội – Ảnh: Huy Khải
|
Tại đại hội, các cổ đông đã thông qua kế hoạch kinh doanh hợp nhất năm 2026 với tổng doanh thu 17,615 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 1,320 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 1,182 tỷ đồng. Về sản lượng, dự kiến Urê đạt 926 ngàn tấn và NPK đạt 350 ngàn tấn.
| Kết quả kinh doanh giai đoạn 2021 – 2025 và kế hoạch 2026 | ||
Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm trang thiết bị tổng cộng 734 tỷ đồng, hay việc tiếp tục thực hiện 8 dự án chuyển tiếp (5 dự án nhóm B, 3 dự án nhóm C), triển khai 3 dự án mới thuộc nhóm B và chuẩn bị tìm kiếm cơ hội đầu tư 15 dự án cũng sẽ được trình cổ đông.
Về phân phối lợi nhuận năm 2025, thông qua phương án chia cổ tức bằng tiền gần 1,059 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 2,000 đồng/cp. Cho năm 2026, tỷ lệ cổ tức dự kiến là 1,000 đồng/cp, quy mô hơn 529 tỷ đồng.
Diễn biến nhân sự thu hút nhiều sự chú ý, với việc miễn nhiệm 3 Thành viên HĐQT gồm ông Trần Ngọc Nguyên, ông Lê Đức Quang và bà Đỗ Thị Hoa (thành viên độc lập). Tại BKS, ông Tống Việt Thống và ông Đỗ Minh Đương được miễn nhiệm.
Đồng thời, đại hội bầu bổ sung vào danh sách HĐQT đối với ông Nguyễn Thanh Tùng, ông Bạch Đức Long và ông Nguyễn Văn Sơn và (thành viên độc lập). Bên cạnh đó, ông Phạm Minh Vĩ và ông Đinh Nhật Dương được bổ nhiệm vào BKS.
Sau đại hội, danh sách HĐQT và BKS của DCM giữ nguyên số lượng lần lượt 7 và 3 thành viên.
Ngay tại đại hội, ông Văn Tiến Thanh được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT mới, trong khi ông Nguyễn Thanh Tùng được giao đảm nhiệm vai trò Tổng Giám đốc để thay thế ông Thanh. Tại BKS, ông Phạm Minh Vĩ được bổ nhiệm làm Trưởng BKS mới.
Lợi nhuận trước thuế quý 1 đạt 878 tỷ đồng
Tổng Giám đốc Văn Tiến Thanh đánh giá bối cảnh năm 2026 tiếp tục khó khăn, xoay quanh các xung đột địa chính trị gia tăng, giá năng lượng và phân bón biến động mạnh, nguy cơ thiếu hụt năng lượng toàn cầu và thời tiết cực đoan (El Nino). Giá phân bón tăng cao gây áp lực lớn lên nông dân và sản xuất nông nghiệp.
“Các dự báo ban đầu được xây dựng từ tháng 9 và hoàn thiện, phê duyệt vào tháng 11/2025. Thời điểm đó, giá dầu Brent được giả định khoảng 70 USD/thùng. Tuy nhiên, diễn biến thực tế đã thay đổi nhanh chóng khi xung đột địa chính trị đẩy giá dầu có thời điểm vượt 120 USD/thùng. Giá khí – nguyên liệu đầu vào cực kỳ quan trọng – cũng biến động theo giá dầu”, ông Thanh chia sẻ. Dù vậy, yếu tố tích cực là giá phân bón tăng mạnh, đặc biệt là Urê, đến nay đã tiệm cận mức 900 USD/tấn.
Cập nhật về kết quả quý 1/2026, ông Thanh cho biết DCM đạt doanh thu đạt gần 5,400 tỷ đồng, tăng 154% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt 878 tỷ đồng; sản lượng xuất khẩu vượt 200 ngàn tấn.
Sản lượng Urê duy trì công suất rất cao, xưởng vận hành tới 120% công suất thiết kế (amoniac khoảng 118.5%). Nhờ tận dụng CO2 và tồn kho amoniac, sản lượng quý 1 vượt 8% kế hoạch, đạt khoảng 28% kế hoạch năm và tăng 3% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, sản lượng NPK gặp nhiều khó khăn do thị trường thu hẹp, quý 1 là mùa thấp điểm và tồn kho chuyển từ năm trước. Tuy nhiên, tiêu thụ và doanh thu mảng tự doanh và NPK vẫn tăng trưởng.
Với dự báo giá phân bón duy trì ở mức cao và hoạt động xuất khẩu thuận lợi, lãnh đạo DCM bày tỏ kỳ vọng kết quả kinh doanh sẽ tiếp tục tích cực trong quý 2.
Kế hoạch kinh doanh năm 2026 của DCM – Ảnh: Huy Khải
|
Kết quả kinh doanh quý 1/2026 của DCM – Ảnh: Huy Khải
|
– 12:30 22/04/2026
Nguồn: https://vietstock.vn/2026/04/dhdcd-dcm-loi-nhuan-truoc-thue-quy-1-dat-878-ty-dong-737-1431654.htm
