Kỳ vọng dòng vốn ngoại khởi sắc

Fed giảm lãi suất: Áp lực tỷ giá giảm dần

UOB giữ quan điểm rằng Fed sẽ tiếp tục giữ nguyên lãi suất trong ngắn hạn, trước khi thực hiện hai đợt cắt giảm 25 điểm cơ bản vào tháng 6 và quý III/2026, đưa lãi suất mục tiêu Quỹ Liên bang từ mức hiện tại 3,75%/năm xuống 3,25%/năm.

Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất đối với kịch bản cơ sở này là khả năng Fed phải trì hoãn các đợt cắt giảm, hoặc thậm chí khó có thể cắt giảm trong nửa cuối năm nếu giá năng lượng tăng mạnh và kéo dài do tác động lan tỏa từ xung đột tại Trung Đông.

Chi phí năng lượng cao sẽ khiến triển vọng lạm phát trở nên phức tạp hơn và có thể hạn chế khả năng nới lỏng chính sách của Fed theo kế hoạch. Đồng USD nhiều khả năng sẽ được hỗ trợ tạm thời trong quý II/2026 giữa bối cảnh rủi ro địa chính trị leo thang.

Xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran có nguy cơ kích hoạt một giai đoạn né tránh rủi ro trên phạm vi toàn cầu, qua đó hỗ trợ ngắn hạn đối với các đồng tiền trú ẩn truyền thống, bao gồm cả USD.

Nếu xung đột kéo dài, áp lực tăng giá dầu liên tục có thể làm gia tăng rủi ro lạm phát, từ đó có thể khiến Fed trì hoãn các đợt cắt giảm lãi suất tiếp theo và điều này sẽ tiếp tục củng cố sức mạnh của USD.

Song chúng tôi kỳ vọng USD sẽ duy trì sức mạnh tương đối so với phần lớn các đồng tiền G10 trong quý II/2026, trước khi quay lại xu hướng suy yếu rộng hơn khi rủi ro địa chính trị giảm dần và các yếu tố điều hành chính sách tiền tệ quay trở lại vai trò chi phối.

Dự báo chỉ số DXY cập nhật của chúng tôi lần lượt là 99,1 điểm cho quý II/2026, 97,6 điểm cho quý III/2026, 96,7 điểm cho quý IV/2026 và 95,8 điểm cho quý I/2027.

USD nhiều khả năng sẽ suy yếu trong các quý tiếp theo của năm 2026 khi Fed được kỳ vọng hạ lãi suất trong nửa cuối năm.

Tuy quan điểm trong trung hạn của chúng tôi đối với USD vẫn nghiêng về giảm giá, nhưng những diễn biến địa chính trị gần đây làm gia tăng mức độ bất định và có thể gây ra những đợt biến động tỷ giá bất thường.

Đồng VND đã suy yếu trong tháng 1/2026 trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng, với tỷ giá USD/VND tăng trở lại quanh 26.200. Tuy nhiên, dư địa giảm thêm của VND được đánh giá là không lớn, khi tỷ giá hiện tại đã tiến sát đến giới hạn dưới trong biên độ điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài các tác động trước mắt từ yếu tố địa chính trị, triển vọng của đồng VND nhìn chung vẫn ổn định.

Các yếu tố hỗ trợ chính bao gồm nền tảng vĩ mô vững chắc của Việt Nam, thể hiện qua dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức 7,5% của UOB, cùng dòng vốn FDI duy trì khả quan, kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5%/năm trong suốt năm 2026, cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi vào tháng 9/2026.

Chúng tôi cho rằng các thị trường toàn cầu sẽ tiếp tục biến động mạnh trong thời gian tới và phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến xung đột tại Trung Đông.

Nếu chiến tranh tiếp tục leo thang, giá dầu thế giới tăng vọt, rủi ro của các loại tài sản gia tăng khó lường thì hoàn toàn có thể xảy ra các xu hướng đảo chiều cho các dự báo. Hiện nay, UOB đang dự báo tỷ giá USD/VND sẽ có mức biến động khoảng 2-3% trong năm 2026, với mức tỷ giá là 26.400 trong quý II/2026, 26.200 trong quý III/2026 và 26.100 vào cuối năm 2026.

Về xu hướng lãi suất, lãi suất VND thực tế đã tăng từ cuối năm trước trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường huy động vốn tại các ngân hàng thương mại, với mức tăng 1-2%/năm tùy từng kỳ hạn. Diễn biến này phản ánh nhu cầu tín dụng ở mức cao trên thị trường, góp phần hỗ trợ tăng trưởng GDP hơn 8% trong năm 2025.

Ngoài ra, áp lực thanh khoản VND còn đến từ việc nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng mạnh trên thị trường chứng khoán trong năm 2025 và đầu năm 2026.

Mặc dù vậy, chúng tôi nhận thấy cơ quan quản lý luôn bám sát diễn biến thị trường và can thiệp kịp thời, hiệu quả thông qua nhiều công cụ chính sách tiền tệ khác nhau.

Kỳ vọng dòng vốn ngoại khởi sắc

Các chính sách thương mại cứng rắn của Mỹ diễn ra song song với cuộc xung đột với Iran tiếp tục tạo áp lực lên kinh tế toàn cầu. UOB duy trì quan điểm thận trọng với triển vọng kinh tế châu Á khi rủi ro lạm phát còn hiện hữu, đồng thời giữ dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức 7,5% cho năm 2026 nhờ nền tảng kinh tế vững chắc từ năm trước.

Triển vọng của đồng VND nhìn chung vẫn ổn định nhờ nền tảng vĩ mô vững chắc, dòng vốn FDI khả quan và kỳ vọng nâng hạng thị trường.

Triển vọng của đồng VND nhìn chung vẫn ổn định nhờ nền tảng vĩ mô vững chắc, dòng vốn FDI khả quan và kỳ vọng nâng hạng thị trường.

Triển vọng thu hút dòng vốn ngoại vào thị trường tài chính Việt Nam được đánh giá tích cực nhờ kỳ vọng nâng hạng lên thị trường mới nổi trong năm nay bởi các tổ chức quốc tế như MSCI hay FTSE Russell. Khi việc nâng hạng này diễn ra, dòng vốn đầu tư vào thị trường vốn dự kiến sẽ hồi phục mạnh mẽ.

Trong những năm qua, do chưa được nâng hạng, nhà đầu tư nước ngoài vẫn coi Việt Nam là nơi đầu tư ngắn hạn, dẫn đến tình trạng rút ròng trong năm 2024 và 2025 khi gặp biến động về tỷ giá.

Cụ thể, đồng Việt Nam mất giá so với USD và nhiều đồng tiền khác trong khu vực khiến các quỹ tại châu Á rút vốn để chuyển sang các thị trường ổn định hơn như Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc hay Nhật Bản. Tuy nhiên, khi đạt trạng thái thị trường mới nổi, tác động lên thị trường chứng khoán sẽ mang tính dài hạn và quy mô lớn hơn nhiều.

Trong khi đó, việc thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế (VIFC) được kỳ vọng tạo sân chơi mới cho nhà đầu tư và dòng vốn gián tiếp, góp phần nâng cao vị thế thị trường tài chính Việt Nam và thu hút thêm nguồn lực trong, ngoài nước.

Với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), giá trị giải ngân trong năm 2025 có sự tăng trưởng rất tốt và 4 tháng đầu năm 2026 cũng đạt tới 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ – mức cao nhất trong 5 năm qua.

Điều này diễn ra bất chấp những lo ngại từ giữa năm trước về các rào cản thương mại. Việc thu hút FDI không phải là kết quả của những quyết định nhất thời mà mang tính chất chiến lược dài hạn.

Với chu kỳ đầu tư 5 năm, việc giải ngân FDI diễn ra trong năm 2025 – 2026 thực chất là kết quả của quá trình nghiên cứu và chọn lựa thị trường đã được các nhà đầu tư thực hiện từ ít nhất 5 năm trước đó.

Hiện Việt Nam đang tận dụng tốt xu hướng đa dạng hóa nguồn vốn FDI, đặc biệt là việc dịch chuyển chuỗi cung ứng và chuỗi sản xuất từ Trung Quốc.

Đáng chú ý, nguồn lao động Việt Nam dồi dào cùng các chính sách mở cửa, hỗ trợ nhà đầu tư từ phía Chính phủ là những điểm cộng lớn. Các chính sách này đã được liên tục cải thiện, hoàn thiện trong suốt 10 năm qua để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khối ngoại.

Ở góc độ ngành nghề, chế biến – chế tạo tiếp tục là lĩnh vực hấp dẫn nhất đối với FDI, bên cạnh bán lẻ, du lịch và dịch vụ phụ trợ. Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam cần chuyển dịch cơ cấu thu hút FDI sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao hơn như bán dẫn, Fintech và thanh toán.

Nguồn: https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/ky-vong-dong-von-ngoai-khoi-sac-post391948.html

////////////khacnhaudoannay
Bài viết liên quan
Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *