Chuyên gia nói gì về nguồn vốn khổng lồ cho các dự án hạ tầng?
Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng chịu áp lực lớn và không thể đơn độc gánh vác nhu cầu vốn khổng lồ lên tới 38 triệu tỷ đồng, các chuyên gia cho rằng những đột phá thể chế nhằm khơi thông nguồn lực từ khu vực tư nhân và đa dạng hóa các kênh huy động vốn là giải pháp bắt buộc để tạo lực đẩy toàn diện cho đầu tư hạ tầng.
Chuyên gia của BSC thảo luận tại hội thảo
|
Nguồn vốn là động lực của nền kinh tế
Tại hội thảo Đón đầu cơ hội từ nội lực kinh tế mới do Chứng khoán BIDV (BSC, HOSE: BSI) ngày 15/07/2026, ông Phan Quốc Bửu, Giám đốc Trung tâm phân tích BSC, nhận định: “Động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có 3 trụ cột chính là tư nhân, vốn FDI và cuối cùng là Nhà nước. Nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là tìm giải pháp khơi thông hiệu quả nguồn vốn, đặc biệt là khu vực tư nhân nhằm tạo ra lực đẩy toàn diện cho nền kinh tế”.
Phân tích sâu về mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số của Việt Nam, ông Bùi Nguyên Khoa, Phó Giám đốc Trung tâm phân tích, chỉ ra từ năm 1990 đến nay, tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam chỉ dao động quanh 6.7%. Nền kinh tế từng có hai giai đoạn bứt phá cao hơn là giai đoạn 1995-1996 (đạt bình quân 9.4%) và giai đoạn 2005-2006 (đạt bình quân 8.6%) và sự tăng trưởng này phụ thuộc vào dòng vốn rất nhiều, đặc biệt là nguồn lực từ nước ngoài.
Bước sang nửa đầu năm 2026, Việt Nam đạt tăng trưởng 8.3%, cao nhất trong vòng 11 năm trở lại đây. Khu vực sản xuất – xây dựng và tiêu dùng tiếp tục là hai bệ đỡ chính khi đóng góp tới gần 80% vào tổng mức tăng trưởng chung.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số, áp lực về nhu cầu vốn sẽ rất lớn. Theo bà Phạm Thanh Thảo, Trưởng nhóm Vĩ mô, trong giai đoạn 2026-2030, trung bình mỗi năm nhu cầu vốn đầu tư công sẽ từ 60 đến 70 tỷ USD để phân bổ cho các siêu dự án trọng điểm về hạ tầng giao thông (đường sắt, đường bộ) và hạ tầng điện.
Ông Khoa dự báo tổng số vốn cần thiết để phát triển hạ tầng xã hội trong 5 năm tới lên tới 38 triệu tỷ đồng (tương đương 1,500 tỷ USD). Trong khi đó, kế hoạch giải ngân đầu tư công của Nhà nước dự kiến chỉ đạt khoảng 8.3 triệu tỷ đồng, đáp ứng được 20% tổng nhu cầu. Lượng vốn 80% còn lại buộc phải huy động từ nguồn lực xã hội và khối tư nhân.
Sức ép thanh khoản lên hệ thống ngân hàng
Khi dòng vốn đầu tư công mở rộng và thu hút khối tư nhân tham gia thông qua các dự án đối tác công tư (PPP), các doanh nghiệp tư nhân thường chỉ đóng góp khoảng 20% đến 30% bằng vốn tự có, còn lại phải phụ thuộc vào dòng vốn vay tín dụng, khiến cho áp lực lên hệ thống ngân hàng sẽ rất cao.
Hệ thống ngân hàng hiện tại đang phải đối mặt với bài toán thanh khoản khi tốc độ huy động vốn suy giảm mạnh so với đà tăng trưởng tín dụng. Ông Khoa cho biết mức chênh lệch này hiện đã lên khoảng 2.5 triệu tỷ đồng và đã kéo dài trong suốt thời gian dài.
Do áp lực nhu cầu vốn quá lớn, mặt bằng lãi suất rất khó hạ nhiệt. Trên thị trường, lãi suất huy động thực tế đã tăng nhanh và sốc từ 5-6% lên ngưỡng gần 9%. Tỷ lệ cho vay trên GDP của hệ thống ngân hàng hiện đã chạm ngưỡng 140% đến 150%
“Ngân hàng huy động nguồn vốn ngắn hạn mà lại tài trợ cho những dự án đầu tư hạ tầng kéo dài 3-10 năm, thậm chí dài hơn thì khiến cho áp lực sẽ ngày càng lớn” – ông Khoa nhận định.
Phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ và tháo gỡ thể chế
Để giải quyết bài toán nguồn vốn khổng lồ, nhà điều hành đang có sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ.
Về chính sách tài khóa, Chính phủ đã có động thái nâng tỷ lệ giữ lại nguồn thu từ thuế dành cho đầu tư phát triển từ mức 30% lên 40% nhằm tiết kiệm thêm nguồn lực. Đồng thời, thông qua Nghị quyết mới, trần thâm hụt nợ công được nới lỏng từ 3.6% lên 5%, và trần vay nước ngoài cũng được tăng từ 45% lên 50% để mở rộng dư địa đầu tư trong bối cảnh nguồn lực trong nước cạn kiệt.
Cơ quan quản lý cũng cho phép sử dụng vượt 50% lượng tiền gửi Kho bạc Nhà nước để bổ sung dòng vốn đầu tư cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục duy trì kênh phát hành trái phiếu để huy động vốn.
Song hành cùng tài khóa, chính sách tiền tệ cũng có những bước nới lỏng kỹ thuật. Cụ thể, thông qua Thông tư 25, nhà điều hành đã điều chỉnh tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng cách cho phép tính 20% tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn vào mẫu số. Ngoài ra, cơ quan quản lý cũng có sự điều chỉnh tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn để tăng thêm nguồn lực tín dụng cho nền kinh tế.
Theo ông Khoa, để thu hút 80% nguồn vốn từ khối tư nhân và toàn xã hội nằm ở các cơ chế đặc thù, tiêu biểu là Luật Thủ đô và dự thảo Luật Đô thị đặc biệt dành riêng cho TP.HCM, trao quyền cho hai thành phố lớn được giữ lại các nguồn thu ngân sách vượt trần để tái đầu tư hạ tầng.
Đối với các siêu dự án như đường sắt đô thị (Metro) hay phát triển đô thị theo định hướng giao thông (TOD), chính quyền địa phương được phép độc lập tổ chức đấu thầu và giữ lại nguồn thu để phát triển dự án, kèm theo các cơ chế đầu tư mạo hiểm; được cấp quyền phát hành trái phiếu địa phương để chủ động huy động vốn thay vì phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Việc định hướng thành lập trung tâm tài chính quốc tế cũng được kỳ vọng sẽ tạo ra một kênh huy động vốn hoàn toàn mới.
Thực tiễn cho thấy, việc tháo gỡ thể chế đã mang lại hiệu quả giải ngân lập tức. Ông Khoa nhận định: “Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân đầu tư công của cả nước chỉ hơn 36% kế hoạch, riêng Hà Nội thì đã đạt được khoảng 53%, chủ yếu do những chính sách mới thúc đẩy. Những bước tiến pháp lý này được kỳ vọng sẽ trở thành động lực khơi thông dòng vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong nửa cuối năm 2026”.
– 14:24 16/07/2026
Nguồn: https://vietstock.vn/2026/07/chuyen-gia-noi-gi-ve-nguon-von-khong-lo-cho-cac-du-an-ha-tang-145-1466932.htm
