Gia hạn thuế CBPG với đường Thái Lan, doanh nghiệp nội vẫn chịu sức ép kép

Nhu cầu tăng, giá đường vẫn chịu áp lực dư cung

Thị trường đường Việt Nam đang ở trong trạng thái khá nghịch lý khi nhu cầu tiêu thụ vẫn tăng, song giá đường trong nước lại liên tục đi xuống. Nguyên nhân chính không nằm ở sức cầu, mà đến từ cấu trúc nguồn cung ngày càng cạnh tranh hơn, đặc biệt là sự hiện diện của đường nhập khẩu, đường nhập lậu và đường lỏng siro ngô.

ăm 2026, ban lãnh đạo QNS đặt mục tiêu doanh thu khoảng 10.500 tỷ đồng, giảm khoảng 5% so với kết quả năm 2025. Lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 1.512 tỷ đồng, thấp hơn khoảng 21% so với năm trước
Việc gia hạn thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp với đường mía Thái Lan đến năm 2031 có tác động quan trọng đối với nhóm doanh nghiệp sản xuất đường trong nước

Theo dữ liệu được Chứng khoán Rồng Việt tổng hợp, tổng nhu cầu tiêu thụ đường trong nước năm 2025 ước đạt khoảng 2,6 triệu tấn, bao gồm đường mía, đường lỏng siro ngô và các sản phẩm thay thế khác. Mức tiêu thụ bình quân đầu người đạt khoảng 25,6 kg/năm, cao hơn trung bình toàn cầu nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan hay Malaysia.

Ở phía cung, sản lượng đường mía nội địa mới đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu trong nước. Năm 2025, sản lượng đường mía sản xuất trong nước ước đạt khoảng 1,35 triệu tấn, trong khi tổng nguồn cung đường trên thị trường vào khoảng 2,73 triệu tấn. Phần còn lại đến từ nhập khẩu chính ngạch, nhập khẩu qua kênh tiểu ngạch và đường lỏng siro ngô.

2(1).png
Tỷ trọng đường Việt Nam nhập khẩu qua kênh chính ngạch, theo quốc gia năm 2024 (%)

Chính sự mở rộng của các nguồn cung ngoài sản xuất nội địa đã kéo thị trường vào trạng thái dư cung kéo dài. Giá đường trong nước vì vậy giảm mạnh từ nửa cuối năm 2023 đến nay. Từ vùng 22.000 – 23.000 đồng/kg, giá đường đã lùi về khoảng 16.000 – 17.000 đồng/kg. Diễn biến này tạo sức ép lên các doanh nghiệp sản xuất đường trong nước, nhất là những đơn vị có hoạt động gắn với đường tinh luyện và vùng nguyên liệu mía.

Trong nhóm doanh nghiệp niêm yết, Công ty CP Đường Quảng Ngãi (QNS) là cái tên có liên quan trực tiếp đến diễn biến của ngành đường.

Áp lực giá càng rõ hơn khi giá đường thế giới đã có thời điểm đảo chiều tăng nhẹ từ tháng 3/2026, nhưng giá nội địa chưa phục hồi tương ứng. Điều này phản ánh đặc thù riêng của thị trường Việt Nam, nơi cạnh tranh không chỉ đến từ nhập khẩu chính ngạch mà còn từ các dòng hàng khó kiểm soát và sản phẩm thay thế có lợi thế chi phí.

Đường nhập lậu và HFCS tạo sức ép kép lên doanh nghiệp nội địa

Sau khi Việt Nam áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp với đường mía có xuất xứ từ Thái Lan từ tháng 6/2021, nhập khẩu chính ngạch đã giảm mạnh. Khối lượng đường nhập khẩu chính ngạch vào Việt Nam giảm từ khoảng 1,22 triệu tấn năm 2021 xuống còn 0,36 triệu tấn năm 2025. Đây là thay đổi quan trọng, giúp giảm bớt áp lực cạnh tranh từ đường giá rẻ qua kênh chính thức.

Tuy nhiên, bức tranh cạnh tranh của ngành đường không chỉ nằm ở kênh nhập khẩu chính ngạch. Hai nguồn cung khác vẫn tạo sức ép lớn là đường nhập lậu và đường lỏng siro ngô, thường được gọi là HFCS.

Với đường nhập lậu, số liệu từ Hiệp hội Mía đường Việt Nam ước tính lượng hàng vào Việt Nam khoảng 700.000 – 800.000 tấn mỗi năm trong giai đoạn 2022 – 2025. Con số này cao hơn đáng kể so với mức khoảng 500.000 tấn của năm 2021, thời điểm các biện pháp phòng vệ thương mại mới bắt đầu được áp dụng từ nửa cuối năm.

Nguồn cung này chủ yếu đi qua các tuyến biên giới Campuchia và Lào. Hai quốc gia này nhập khẩu lượng lớn đường từ Thái Lan, sau đó một phần thẩm lậu vào Việt Nam qua các kênh không chính thức. Vì vậy, phần lớn đường nhập lậu vẫn có nguồn gốc từ Thái Lan, nhưng không chịu đầy đủ tác động của các biện pháp thuế đang áp dụng với kênh chính ngạch.

Điều này làm giảm hiệu quả thực tế của chính sách phòng vệ thương mại. Trong khi các doanh nghiệp sản xuất đường nội địa phải duy trì vùng nguyên liệu, nhà máy, hệ thống thu mua mía và chi phí sản xuất trong nước, đường nhập lậu có thể tạo lợi thế cạnh tranh về giá do không đi qua đầy đủ nghĩa vụ thuế và kiểm soát như hàng nhập khẩu chính thức.

Sức ép thứ hai đến từ HFCS. Đây là đường lỏng siro ngô, được sử dụng ngày càng phổ biến trong ngành thực phẩm và đồ uống nhờ lợi thế về chi phí và độ ngọt. Trước đây, các doanh nghiệp nước giải khát là nhóm khách hàng tiêu thụ đường tinh luyện lớn. Tuy nhiên, để tối ưu chi phí nguyên liệu, nhiều nhà sản xuất đã chuyển dần sang dùng HFCS thay thế một phần đường cát trắng tinh luyện.

Lượng HFCS nhập khẩu vào Việt Nam tăng từ khoảng 166.000 tấn năm 2020 lên 242.000 tấn năm 2024, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép khoảng 10,1% mỗi năm. Phần lớn lượng nhập khẩu là chủng loại HFCS-55, có tỷ lệ fructose 55% và glucose 45%, độ ngọt cao hơn đường thông thường. Với cùng một mục tiêu tạo vị ngọt, doanh nghiệp thực phẩm – đồ uống có thể giảm chi phí đầu vào khi sử dụng nguyên liệu này.

Sự dịch chuyển này khiến thị trường đường tinh luyện bị thu hẹp dần ở một số nhóm khách hàng công nghiệp. Nếu đường nhập lậu gây áp lực về giá ở kênh thương mại, HFCS lại cạnh tranh trực tiếp trong kênh sản xuất, nơi yếu tố chi phí nguyên liệu có vai trò lớn đối với biên lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng đường.

Với các doanh nghiệp sản xuất đường như QNS và nhóm nhà máy gắn với vùng nguyên liệu mía, áp lực không chỉ nằm ở giá bán đầu ra mà còn ở khả năng duy trì sản lượng tiêu thụ trong bối cảnh khách hàng công nghiệp có thêm lựa chọn thay thế. Đây là yếu tố khiến dư địa phục hồi của giá đường nội địa khó tách rời khỏi diễn biến cạnh tranh của HFCS và đường nhập lậu.

Gia hạn thuế đến 2031, nhóm sản xuất đường có thêm vùng đệm

Trong bối cảnh cạnh tranh còn lớn, việc gia hạn thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp với đường mía Thái Lan đến năm 2031 trở thành thông tin quan trọng đối với nhóm doanh nghiệp sản xuất đường trong nước.

Việt Nam bắt đầu áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại với một số sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Thái Lan từ ngày 15/6/2021. Tổng mức thuế lên tới 47,64%, gồm 42,99% thuế chống bán phá giá và 4,65% thuế chống trợ cấp. Sau gần 5 năm thực hiện, chính sách này đã góp phần làm giảm đáng kể lượng đường giá rẻ nhập khẩu qua kênh chính ngạch.

Tác động của chính sách thể hiện rõ ở nhập khẩu chính ngạch và sản xuất trong nước. Lượng đường nhập khẩu từ Thái Lan giảm mạnh so với giai đoạn trước khi áp thuế. Cùng với đó, sản lượng đường mía nội địa phục hồi qua từng niên vụ. Niên vụ 2024/25, sản lượng đường sản xuất trong nước đạt hơn 1,2 triệu tấn, tăng khoảng 1,7 lần so với niên vụ 2020/21.

Vùng nguyên liệu mía cũng có sự cải thiện sau giai đoạn suy giảm kéo dài. Nhiều diện tích từng bị thu hẹp trước đây được khôi phục trở lại, đặc biệt tại các vùng kinh tế còn khó khăn, nơi cây mía vẫn gắn với sinh kế của một bộ phận nông dân. Năng suất đường của Việt Nam tăng từ 5,36 tấn/ha niên vụ 2020/21 lên 6,69 tấn/ha niên vụ 2024/25, mức cao trong khu vực.

Ngày 13/6/2025, Bộ Công Thương ban hành quyết định rà soát cuối kỳ các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đang áp dụng đối với đường mía có xuất xứ từ Thái Lan trong giai đoạn 2021 – 2026. Kết quả rà soát xác định khả năng tái diễn hành vi bán phá giá và trợ cấp là tương đối cao nếu các biện pháp này chấm dứt, từ đó có thể gây thiệt hại cho ngành sản xuất đường trong nước.

Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định gia hạn các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp thêm 5 năm, đến hết ngày 15/6/2031. Với các doanh nghiệp sản xuất đường nội địa, đây là vùng đệm chính sách cần thiết để duy trì sản xuất, ổn định nguồn cung trong nước và có thêm thời gian nâng năng lực cạnh tranh.

Dù vậy, tác động bảo vệ của thuế phòng vệ thương mại chủ yếu phát huy ở kênh nhập khẩu chính ngạch. Các nguồn cạnh tranh còn lại, gồm đường nhập lậu và HFCS, vẫn là bài toán khó hơn. Vì vậy, triển vọng ngành đường trong những năm tới không chỉ phụ thuộc vào quyết định gia hạn thuế, mà còn gắn với hiệu quả kiểm soát hàng nhập lậu, xu hướng sử dụng nguyên liệu thay thế trong ngành thực phẩm – đồ uống và khả năng giảm chi phí sản xuất của từng doanh nghiệp.

Với nhóm doanh nghiệp mía đường, giai đoạn đến năm 2031 có thể là khoảng thời gian quan trọng để củng cố nền tảng sản xuất trong nước. Chính sách phòng vệ tạo thêm dư địa, nhưng năng lực cạnh tranh dài hạn vẫn phải đến từ vùng nguyên liệu ổn định, năng suất cao hơn, chi phí sản xuất hợp lý hơn và khả năng duy trì đầu ra ở nhóm khách hàng công nghiệp trước sự mở rộng của các sản phẩm thay thế.

Nguồn: https://kinhtechungkhoan.vn/gia-han-thue-cbpg-voi-duong-thai-lan-doanh-nghiep-noi-van-chiu-suc-ep-kep-1453335.html

////////////khacnhaudoannay
Bài viết liên quan
Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *