Ngành dầu khí Việt Nam đang đứng trước chu kỳ đầu tư mới với động lực từ an ninh năng lượng, giá dầu thuận lợi và các dự án thượng nguồn được đẩy mạnh. Hạ tầng khí – khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) và năng lực lọc hóa dầu cũng mở ra dư địa tăng trưởng mới cho toàn ngành.
Chu kỳ đầu tư mới mở ra cho ngành dầu khí Việt Nam, từ thăm dò, khai thác đến hạ tầng khí và lọc hóa dầu.
Theo Báo cáo “Ngành dầu khí” tháng 8/2026 của Công ty Cổ phần Chứng khoán Mirae Asset (Việt Nam), chu kỳ đầu tư mới đang dần hình thành khi giá dầu tạo điều kiện thuận lợi cho thượng nguồn, trong khi yêu cầu bảo đảm nguồn cung thúc đẩy các dự án khai thác, hạ tầng khí và lọc hóa dầu.
An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư
Thị trường dầu mỏ thế giới bước vào nửa cuối năm 2026 trong bối cảnh cung – cầu thay đổi mạnh. Thị trường đã chuyển từ trạng thái dư cung sang thâm hụt sâu nhất kể từ quý IV/2021, đẩy giá Brent lên quanh 91 USD/thùng ngày 18/8, cao hơn đáng kể so với các dự báo trước đó về mặt bằng giá năm 2026. Mặt bằng giá dầu vì thế đang tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các quyết định đầu tư trong ngành.
Với Việt Nam, tác động của giá dầu cần được nhìn trong một bài toán rộng hơn: nguồn cung nội địa đang chịu sức ép suy giảm, trong khi yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng rõ nét. Mặt bằng giá dầu được đánh giá đủ thuận lợi để kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ở thượng nguồn, qua đó mở ra dư địa cho các dự án thăm dò, khai thác và dịch vụ dầu khí.
Hoạt động khai thác trong nước cũng đã phát đi tín hiệu tích cực. Quý I/2026, sản lượng dầu thô của Petrovietnam đạt 2,63 triệu tấn, vượt 10,4% kế hoạch và tăng khoảng 10% so với cùng kỳ; riêng sản lượng trong nước tăng khoảng 12%. Đáng chú ý, hệ số bù trữ lượng (RRR) vượt 1 trong hai năm liên tiếp, với mức gia tăng trữ lượng 15,2 triệu tấn quy dầu năm 2024 và 10,5 triệu tấn năm 2025, góp phần củng cố nền tảng tài nguyên cho các hoạt động khai thác trong những năm tới.
Một thay đổi đáng chú ý khác nằm ở khung pháp lý. Trên nền Luật Dầu khí 2022, các chính sách ban hành trong năm 2025 được đánh giá có sự cộng hưởng trong việc tháo gỡ nút thắt về thời gian phê duyệt vốn, vốn có thể kéo dài 3-5 năm. Việc rút ngắn chu trình quyết định được kỳ vọng tạo thuận lợi cho nhóm mỏ nhỏ, mỏ cận biên và đẩy nhanh các dự án trọng điểm như Lô B – Ô Môn.
Dòng dự án vì vậy đang dần rõ nét. Lô B – Ô Môn có vốn đầu tư khoảng 6,8 tỷ USD, trữ lượng 107 tỷ m³; Sư Tử Trắng 2B có vốn khoảng 1,1 tỷ USD, trữ lượng 17 tỷ m³; Khánh Mỹ – Đầm Dơi có vốn khoảng 0,3 tỷ USD, trữ lượng 4 tỷ m³. Ở phía dầu, Lạc Đà Vàng có trữ lượng khoảng 100 triệu thùng, Hải Sư Vàng 170-430 triệu thùng và Lạc Đà Hồng 30-60 triệu thùng.
Không phải các dự án có cùng tiến độ, nhưng Lô B – Ô Môn đã bước vào giai đoạn thi công, trong khi các dự án như Lạc Đà Vàng và Sư Tử Trắng 2B đang trở thành những động lực đáng chú ý trong giai đoạn 2026-2028. Cá Voi Xanh vẫn được xác định là dự án trung – dài hạn, với tiến độ gắn với quá trình phê duyệt, phát triển mỏ và các dự án điện liên quan.
Khí – LNG kéo theo chu kỳ dịch vụ
Nếu thượng nguồn là nơi khởi phát chu kỳ đầu tư, thì trung nguồn là mắt xích kết nối nguồn khí với các trung tâm tiêu thụ. Khi các mỏ khí nội địa chủ lực suy giảm, yêu cầu đầu tư vào kho, cảng và đường ống ngày càng rõ hơn.
Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu 37,3 GW điện khí vào năm 2030, trong đó LNG nhập khẩu chiếm 60-65%. Hai hướng phát triển đã tương đối rõ: ngắn hạn là LNG cấp cho Nhơn Trạch 3&4 và mở rộng kho Thị Vải lên 3 triệu tấn/năm; trung hạn là dòng khí Lô B về bờ, dự kiến quý III/2027. Kế hoạch đầu tư hạ tầng khí khoảng 60.000-100.000 tỷ đồng giai đoạn 2026-2030 càng mở rộng dư địa cho chuỗi trung nguồn.
Cùng với hạ tầng, chu kỳ đầu tư thượng nguồn đang tạo thêm khối lượng công việc cho các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí. Sáu tháng đầu năm 2026, PVS đạt doanh thu 17.288 tỷ đồng, tăng 29%, lợi nhuận sau thuế 941 tỷ đồng, tăng 36%. Doanh thu mảng cơ khí và xây dựng tăng 19%, lên 10.491 tỷ đồng. Khối lượng thi công tại Lô B – Ô Môn đang được đẩy nhanh, trong khi hợp đồng EPCIC Sư Tử Trắng 2B có giá trị ước tính trên 10.000 tỷ đồng bổ sung backlog cho giai đoạn 2026-2028.
Ở PVD, chu kỳ đầu tư được phản ánh qua việc doanh nghiệp liên tiếp mở rộng đội giàn trong 3 năm 2024-2026, nâng tổng số giàn sở hữu lên 8. Sáu tháng đầu năm, doanh thu đạt 6.437 tỷ đồng, tăng 63%, lợi nhuận sau thuế 479 tỷ đồng, tăng 20%. Toàn bộ đội giàn đã có hợp đồng trong năm 2026, một số hợp đồng kéo dài tới năm 2028 hoặc sau năm 2030.
Bức tranh kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm cho thấy chu kỳ đầu tư đang bắt đầu lan sang các mắt xích trong chuỗi dầu khí, dù mức độ hưởng lợi giữa các phân khúc không giống nhau.
Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết ngành dầu khí, 6 tháng năm 2026
Nguồn: Fiinpro, Mirae Asset tổnghợp.
Đáng chú ý, nhóm dịch vụ thượng nguồn đang có thêm nguồn việc khi các dự án bước vào giai đoạn triển khai. Điều này tạo cơ sở để hoạt động cơ khí, khoan, dịch vụ kỹ thuật và vận hành tiếp tục mở rộng cùng tiến độ đầu tư của ngành.
Hạ nguồn mở dư địa nâng giá trị
Ở hạ nguồn, dư địa tăng trưởng gắn với yêu cầu nâng cao năng lực chế biến, qua đó tăng khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước và nâng giá trị của chuỗi lọc hóa dầu.
Nửa đầu năm 2026, BSR ghi nhận doanh thu 104.636 tỷ đồng, tăng 52%, lợi nhuận sau thuế 15.725 tỷ đồng, gấp 12,6 lần cùng kỳ. Kết quả được hỗ trợ bởi crack spread mở rộng ở các sản phẩm chủ lực như diesel và RON 95, cùng hiệu suất vận hành cao của nhà máy.
Về dài hạn, dư địa của BSR nằm ở dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Công suất dự kiến tăng từ 148.000 lên 171.000 thùng/ngày, đồng thời nhà máy có thể xử lý các loại dầu thô chua, chất lượng thấp hơn và nâng tỷ trọng sản phẩm hóa dầu, SAF có biên cao hơn.
Động lực đầu tư này gắn trực tiếp với bài toán nguồn cung. Giai đoạn 2020-2025, Việt Nam nhập khoảng 71 triệu tấn dầu thô, tương đương 50-60% nhu cầu, cùng khoảng 58 triệu tấn xăng dầu thành phẩm, với tổng chi phí khoảng 79 tỷ USD. Hai nhà máy lọc dầu hiện đã vận hành vượt công suất; khi Dung Quất hoàn thành nâng cấp vào năm 2028, công suất tăng khoảng 16%, nhưng với nhu cầu xăng dầu tăng 7-10% mỗi năm, phần tăng thêm chủ yếu đáp ứng nhu cầu trong ngắn hạn.
Nhìn tổng thể, báo cáo cho thấy chu kỳ mới của ngành dầu khí không đơn thuần bắt nguồn từ giá dầu tăng. Giá dầu tạo điều kiện cho đầu tư, nhưng an ninh năng lượng mới là động lực xuyên suốt, thúc đẩy đồng thời việc củng cố nguồn cung thượng nguồn, phát triển hạ tầng khí – LNG và nâng năng lực lọc hóa dầu.
Từ thượng nguồn đến hạ nguồn, các dự án mới đang mở rộng không gian đầu tư cho toàn chuỗi dầu khí. Nếu thượng nguồn tạo thêm nguồn cung, trung nguồn đóng vai trò kết nối khí với các trung tâm tiêu thụ, thì việc nâng năng lực lọc hóa dầu góp phần tăng sức chủ động của nguồn cung trong nước.
Quan trọng hơn, chu kỳ này đang chuyển dần từ kỳ vọng đầu tư sang khối lượng công việc và kết quả kinh doanh thực tế, dù tốc độ chuyển hóa ở từng doanh nghiệp còn khác nhau. Đây là nền tảng để ngành dầu khí bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng gắn chặt với quyết định đầu tư và sự vận động của toàn chuỗi giá trị.
Nguồn: https://stockbiz.vn/tin-tuc/nganh-dau-khi-viet-nam-truoc-chu-ky-dau-tu-moi-an-ninh-nang-luong-mo-loi-tang-truong/41536750


